www.tamlytrilieu.com
NGHIÊN CỨU THEO DƠI 11 TRƯỜNG HỢP TRẺ TỰ KỶ ĐẦU TIÊN
ĐĂ
ĐƯỢC BÁO CÁO TỪ NĂM 1943
BS.
NGUYỄN
MINH TIẾN
Bài viết này đă được đăng tải tại Hoa Kỳ vào năm 1971 bởi BS. Leo Kanner, nghĩa là 28 năm sau khi ông đă báo cáo về 11 trường hợp trẻ tự kỷ đầu tiên mà ông đă phát hiện và theo dơi tại Bệnh viện John Hopkins. Vào thời điểm có cuộc đánh giá này, tự kỷ vẫn c̣n là một căn bệnh chưa được hoàn toàn hiểu rơ và các phương pháp chữa trị, giáo dục trẻ tự kỷ vẫn c̣n chưa phát triển nhiều như ngày nay. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn tŕnh bày bài dịch thuật này với mục đích giúp bạn đọc phần nào hiểu rơ hơn về một căn bệnh đă từng là chủ đề nghiên cứu quan trọng trong chuyên ngành tâm bệnh nhi trên thế giới đồng thời cũng là một t́nh trạng rối loạn phát triển của trẻ em đang được quan tâm nhiều tại Việt Nam hiện nay.
Trong ấn bản năm 1943 của tờ
tạp chí mà nay đă không c̣n, tờ The Nervous Child, có
một một bài viết với tiêu đề “Các
rối loạn tự kỷ về quan hệ cảm xúc”
(Autistic disturbances of affective contact); trong đó 24 trang đầu
tiên kể về 11 đứa trẻ có biểu hiện
chung một khuôn mẫu hành vi với nét độc đáo
đáng kinh ngạc mà người ta chưa hề biết
đến trước đó; tiếp theo sau là 9 trang bàn
luận và nhận định. Đoạn mở đầu
của bài viết được kết bởi câu sau:
“Bởi v́ không có đứa trẻ nào trong số này
lớn hơn 11 tuổi, đây phải được xem
như một báo cáo sơ bộ cần được
bổ sung thêm khi những bệnh nhân này lớn lên và khi
đă thực hiện thêm những quan sát về t́nh
trạng phát triển của chúng”.
Hai mươi tám năm đă trôi qua kể
từ đó (Bài viết này được thực
hiện vào năm 1971 - N.D.).
Những bệnh nhân nói trên đều có
độ tuổi từ 2-8 tuổi khi được
đưa đến Khoa Tâm bệnh Nhi thuộc Bệnh
viện John Hopkins. Điều ǵ đă xảy đến
với chúng? T́nh trạng của chúng hiện ra sao?
Được sự giúp đỡ của
vị Khoa trưởng hiện hành, BS. Alejandro Rodriguez, Cô
Barbara Ashenden, trưởng nhóm nhân viên xă hội kể
từ 1931, đă đảm nhận công việc t́m
hiểu về nơi cư trú, khả năng sống và
số phận tạm thời của những đứa
trẻ này. Các kết quả sẽ được tŕnh bày
theo thứ tự của sự tŕnh bày nguyên gốc,
mỗi trường hợp bắt đầu bằng
một tóm tắt các t́nh trạng được thấy
khi đứa trẻ đầu tiên được
tiếp nhận.
Ca
thứ 1
Donald T. đến Khoa vào ngày 14/ 10/ 1938,
với một tập 30 trang do người bố ghi
lại kể về thân thế của đứa trẻ.
Donald sinh ra b́nh thường, đủ tháng vào ngày 8/ 9/
1933. Bú mẹ cho đến 8 tháng, sau đó là thường
xuyên thay đổi các loại sữa bột. Đi
vững lúc 13 tháng tuổi. Việc mọc răng tiến
triển thuận lợi.
“Lúc 1 tuổi, cháu có thể ngâm nga và hát
nhiều giai điệu nhạc một cách chính xác… Gia
đ́nh đă khuyến khích cháu đọc lại
những bài thơ ngắn, thậm chí học hát
được cả bài Thánh ca thứ 23 và 25 câu hỏi
đáp từ sách dạy giáo lư của Giáo hội…Cháu cũng
rất nhanh chóng biết được rất nhiều
bức h́nh trong bộ tự điển bách khoa Compton’s
Encyclopedia… Cháu nhanh chóng học được toàn bộ
bảng mẫu tự A, B, C, đọc ngược cũng
như đọc xuôi, và đếm được từ
1 đến 100. Nhưng cháu không biết đặt câu
hỏi và trả lời các câu hỏi trừ khi chúng
đi kèm theo những vần điệu hoặc những ǵ
đại loại như vậy… Cháu có vẻ tự
thỏa măn, không cần đến ai. Cháu không biểu
lộ cảm xúc rơ rệt nào khi được người
khác nựng nịu. Cháu không chú ư ǵ khi
Vào tháng 8/ 1937, đứa trẻ được
đưa vào một dưỡng viện dành chữa
trị cho những bệnh nhân lao (Preventorium) “để thay đổi môi trường”.
Trong khi ở đó, “cháu biểu hiện một thái
độ tơ tưởng khiến cháu có vẻ quên lăng
hết mọi chuyện về bản thân. Cháu có vẻ luôn
luôn suy nghĩ và không chú ư ǵ cả khiến ai nh́n
thấy đều muốn phá vỡ đi cái hàng rào ngăn
cách giữa nội tâm bên trong và thế giới bên ngoài
của cháu”. Vị bác sĩ gia đ́nh đề
nghị có một cuộc hẹn tại Khoa của chúng tôi.
Giám đốc dưỡng viện chống lại điều
này, ông cho rằng Donald “sống rất tốt” và
“hiện tại nó hoàn toàn ổn cả thôi”; lời
khuyên của ông là: “Hăy để đứa trẻ
lại một ḿnh”. Khi cha mẹ đứa trẻ
dứt khoát yêu cầu ông ta gửi cho chúng tôi một
bản báo cáo, ông đă viết ra không đến nửa
trang giấy về t́nh trạng của Donald như là
“một đứa trẻ tập trung về mặt tâm
thần” và phỏng đoán rằng “nó có thể
bị một bệnh lư về hạch”.
Người cha, có ngoại h́nh rất
giống Donald, là một “luật sư thành công, tỉ
mỉ và siêng năng, một người làm mọi
việc rất nghiêm túc… Khi đi phố, ông như
bị cuốn hút vào các suy nghĩ đến mức
chẳng nh́n thấy ǵ, chẳng nh́n thấy ai, và
chẳng thể nhớ đến việc ǵ khác”. Người
mẹ, một sinh viên tốt nghiệp đại học,
là một người trầm tĩnh, giỏi dang,
được chồng đánh giá cao. Đứa con
thứ hai, một đứa con trai, được sinh ra
ngày 22/ 5/ 1938.
Tại Khoa, Donald được thấy là có
t́nh trạng thể chất tốt. Cậu được
đưa vào Cơ sở Nghiên cứu Trẻ em Maryland
với sự quan sát kỹ lưỡng của các BS.
Eugenia S. Cameron và George Frankl. Sau đó, Donald trở về 3
lần để kiểm tra. Khuôn khổ bài viết không
đủ chỗ để chúng ta có thể tiếp
cận với những dữ liệu được ghi chép
tỉ mỉ trong các hồ sơ của Khoa và các thư
từ qua lại của người mẹ. Và trong khi người
cha đóng vai tṛ như một nhà viết sử đáng
tin cậy, th́ người mẹ đă trở thành người
tham gia tích cực vào việc quản lư đứa
trẻ. Thêm vào đó có thể nói rằng sự mô
tả của người cha đă có thể được
khẳng định. Donald vừa đi đi lại
lại vừa cười, các ngón tay làm những hành vi
mang tính rập khuôn, đầu th́ lắc qua lắc
lại và ngâm nga măi một giai điệu có ba nốt
nhạc. Một cách cực kỳ vui thích, cậu bé xoay
bất cứ thứ ǵ mà cậu có thể chộp
lấy để xoay. Hầu hết các hành động
của cậu đều có tính lập đi lập
lại, mỗi lần đều thực hiện bằng cùng
một cách thức như nhau. Cậu thường nhái
lại những ǵ được người khác nói
với cậu, sử dụng những đại từ nhân
xưng mà người nói đă dùng, thậm chí bắt chước
cả ngữ điệu của người nói.
Năm 1942, cha mẹ đưa cậu đến
một trang trại cho thuê cách nhà khoảng 10 dặm. Khi tôi
đến đó vào tháng 5/ 1945, tôi rất ngạc nhiên
về sự thông minh của hai vợ chồng tá điền
nhận chăm sóc đứa trẻ. Họ đă làm cho hành
vi rập khuôn của đứa trẻ trở nên có
mục đích. Họ đă cho cậu sử dụng
thời giờ bận rộn với việc đo đạc
bằng cách bảo cậu đào một cái giếng và báo
cáo về độ sâu của nó. Khi cậu thu lượm
xác của những con chim và côn trùng bị chết,
họ đă dành cho cậu một khu vực để làm
một “nghĩa địa” và bảo cậu làm
những cột ghi chú; trên mỗi cái, cậu ghi một cái
tên riêng ở trước, giữa là tên con vật, và sau
đó là họ của người nông dân, ví dụ như:
“John Ốc sên Lewis. Ngày sinh, không biết. Chết, (ngày mà
cậu t́m thấy xác con vật)”. Khi đứa trẻ
đếm đi đếm lại những hàng bắp,
họ cũng cho cậu đếm những luống đất
mà cậu đă cày lên. Vào lúc tôi đến thăm,
cậu đă cày được 6 luống đất dài;
thật đáng khen khi cậu làm tốt công việc điều
khiển ngựa và cày, rồi dẫn ngựa đi ngược
trở lại. Rơ ràng là ông bà Lewis rất yêu mến
đứa trẻ và cũng rơ ràng là hai người
rất nhẹ nhàng mà cương quyết. Đứa
trẻ được theo học một trường làng
nơi nó được chấp nhận và đă đạt
được những tiến bộ trong học tập.
Phần c̣n lại của câu chuyện
được ghi lại trong lá thư của người
mẹ ngày 6/ 4/ 1970:
“Don nay đă được 36 tuổi,
sống độc thân tại nhà với chúng tôi. Cháu
bị một đợt thấp khớp cấp vào năm
1955. May mắn là việc này chỉ kéo dài vài tuần.
Về thể chất, từ thời gian đó, cháu hoàn toàn
khỏe mạnh… Từ khi nhận được bằng
A.B.(Bằng Cử nhân KHXH) năm 1958, cháu đă vào làm thâu ngân
tại ngân hàng địa phương. Cháu an phận làm
một nhân viên thâu ngân, không có một ước
muốn thực sự nào trong việc thăng tiến. Cháu
tiếp xúc với công chúng ở đó rất tốt. Thú
vui chính của cháu là đánh gôn, mỗi tuần chơi
4-5 lần ở một câu lạc bộ tại địa
phương. Chẳng là vận động viên nhà
nghề, nhưng cháu đă 6 lần đoạt giải
ở các cuộc tranh tài địa phương… Các quan
tâm khác là Câu lạc bộ Kiwanis (giữ cương
vị chủ nhiệm một nhiệm kỳ), Jaycees, Câu
lạc bộ Đầu tư, thư kư của Trường
ḍng Presbyterian Sunday School. Cháu rất đáng tin, chính xác, và
thể hiện sự độc đáo trong việc biên
tập các thông tin của chương tŕnh Jaycee, tính
nết ổn định, nhưng có khả năng tự
quyết định… Cháu có thêm chiếc xe hơi thứ
hai, thích độc lập. Trong pḥng cháu có riêng một
TV, máy hát và nhiều sách vở. Ở trường đại
học, cháu học chuyên môn Pháp văn và thể hiện
thái độ đặc biệt đối với các
ngoại ngữ. Don là người chơi bài bridge rất
công bằng, nhưng chẳng bao giờ bắt đầu
được một cuộc chơi. Thiếu khả năng
bắt đầu công việc dường như là
trở ngại trầm trọng nhất của cháu. Ít tham
gia vào những cuộc trao đổi ngoài xă hội và không
biểu hiện sự quan tâm ǵ đến người khác
phái.
“Trong khi Don không hoàn toàn là người b́nh
thường, cháu vẫn đảm nhận rất tốt
cương vị của ḿnh ngoài xă hội, tốt hơn
nhiều so với những ǵ chúng tôi hy vọng. Nếu
cứ giữ nguyên trạng như vậy, tôi nghĩ
rằng cháu có khả năng đầy đủ để
có thể tự chăm sóc bản thân. Chúng tôi thật
sự biết ơn v́ những tiến bộ rất
nhiều này… Xin gửi đến BS. Kanner những
lời chúc tốt đẹp nhất của chúng tôi. Hăy
nói với ông rằng cặp vợ chồng đă nuôi dưỡng
Don trong 4 năm, ông bà Lewis vẫn c̣n là bạn của chúng
tôi. Chúng tôi gặp nhau khá thường xuyên. Don chẳng
bao giờ cần đến thuốc men v́ những rắc
rối về cảm xúc nữa. Tôi ao ước biết
được những cảm xúc nội tâm thực
sự của Don. Chừng nào Don vẫn c̣n giống như
hiện nay, chừng ấy chúng tôi vẫn c̣n tiếp
tục mang ơn…”
Ca
thứ 2
Frederick Creighton (“Wikky”) W. đến khám ngày
29/ 5/ 1942, một tuần trước sinh nhật lần
thứ sáu của cậu. Sau đây là tóm tắt những
lời khai bệnh của người mẹ:
“Cháu luôn luôn tự lập không cần ai
giúp đỡ. Tôi chẳng bao giờ thấy cháu khóc
để đ̣i người khác phải chú ư. Cháu cũng
không bao giờ hợp tác tốt trong khi chơi. Cho đến
năm ngoái, cháu vẫn cư xử như thể chẳng
có ai xung quanh ḿnh. Cách đây chừng 1 năm, cháu bắt
đầu tỏ ra quan tâm hơn khi nh́n người khác
nhưng thường th́ xem họ như một sự
quấy nhiễu. Ở mức độ nào đó, cháu thích
bám chặt lấy những sự việc không thay đổi.
Trên một kệ tủ để sách, chúng tôi
Được mổ bắt con 2 tuần trước
ngày dự sanh v́ lư do “mẹ có bệnh ở thận”.
Chào đời rất tốt. Không có vấn đề
về dinh dưỡng. Người mẹ chẳng bao
giờ thấy cậu thay đổi tư thế khi bà
đưa tay ra bế. Ngồi lúc 7 tháng tuổi và
biết đi lúc 18 tháng.
Wikky là con một. Cha là một chuyên viên
về bệnh lư của thực vật (Plant pathologist), một con người “nhẫn nại,
trầm tĩnh”, một người mà lúc nhỏ “măi
về sau” mới chịu nói và rất “tinh tế”. Người
mẹ, “khỏe mạnh và trầm tĩnh”, là thư kư
của một đại lư thu mua hàng hóa, và có lúc đă
từng là một giáo viên dạy môn lịch sử. Khi
đứa trẻ ra đời, mẹ 34 tuổi c̣n cha th́
38.
Ông nội, (với quyển tự truyện
được công bố năm 1943), là người
tận tụy với “một gia đ́nh có 11 người
con và cháu”, đă bỏ nhà ra đi vào năm 1911, trong 25
năm không ai biết được chỗ ở và
thời gian đó ông đă kết hôn với một nhà văn
viết tiểu thuyết người Anh (nhưng không ly
dị vợ). Ông đă đi qua bốn châu lục, làm
qua nhiều nghề, bao gồm nghề khai mỏ măngan,
giám đốc một nhà bảo tàng nghệ thuật,
chủ nhiệm khoa trong trường đại học y
khoa, và tổ chức các công tác y tế. Người
vợ (chính thức) của ông là một “nhà truyền
giáo nhiệt thành”. Ông có 5 người con, mà cha của
Wikky là người thứ hai. Có một người con
trai theo nghề làm báo, một người viết
chuyện khoa học viễn tưởng, một người
làm việc cho đài truyền h́nh; một người con
gái làm ca sĩ. Về bà con bên mẹ, người mẹ
nói: “Bà con của tôi là những người rất b́nh
thường”.
Wikky được nuôi dưỡng tốt;
hai vùng chẩm và trán ở trên đầu đều nhô
cao. Cậu có thêm một núm vú phụ ở vùng nách bên
trái. X quang xương sọ b́nh thường. Amiđan to
và gồ ghề.
Tại pḥng khám, cậu đi lang thang không
mục đích trong một lúc, sau đó ngồi xuống,
phát âm những âm không rơ nghĩa, rồi đột
ngột nằm dài ra và cười. Các câu hỏi hoặc
yêu cầu, nếu có đáp ứng, th́ đều theo
kiểu nhại lời. Cậu bị các đồ vật lôi
cuốn, và tỏ ra rất chú ư khi cầm nắm chúng. Dường
như cậu xem mọi người như những kẻ
xâm phạm không được mong muốn. Khi có người
đặt một bàn tay phía trước mặt cậu
khiến cậu không thể làm lơ được,
cậu sẽ chơi với bàn tay này như thể đây
là một đồ vật tách rời. Cậu chú ư ngay
đến các sân khấu gỗ, chơi trên đó một
cách tự nhiên, thích thú và thành thạo.
Vào tháng 9/ 1942, cậu vào học trường
Devereux, và tiếp tục học tại đó cho đến
tháng 8/1965. Nhà trường và Khoa của chúng tôi vẫn
duy tŕ sự quan hệ chặt chẽ. Năm 1962, một báo
cáo từ trường Devereux có ghi: “Ở tuổi 26, em là
một người thụ động, dễ thương,
sở thích chính là âm nhạc. Em ấy có thể tuân theo
những thông lệ, và mặc dù chủ yếu sống
trong thế giới riêng của ḿnh, em vẫn thấy thích
thú với những sinh hoạt nhóm nào mà em đặc
biệt quan tâm”.
Wikky là thành viên của ban hợp xướng
trong chương tŕnh Ngày Của Cha Mẹ (Parent’s Day) và
phụ trách các loa phóng thanh vào ngày lễ hội hằng
năm. Cuối tuần, cậu có thể xuống phố
một ḿnh và tự mua sắm những thứ cần
thiết.
Wikky, hiện gọi tên theo họ là
Creighton, đă ở cùng cha mẹ trong 5 năm qua. Anh nay
đă 34 tuổi. Sau khi rời trường Devereux, gia đ́nh
đă dành một năm sang Puerto Rico nơi mà “cháu
học được nhiều tiếng Tây Ban Nha và theo
một chương tŕnh học ngoại ngữ qua máy thu
thanh vào lúc 4 giờ mỗi chiều”. Gia đ́nh sau đó
đi sang Raleigh. Cha mẹ anh đă báo lại: “Chúng tôi
chuyển đến một ngôi nhà mới và cháu cũng
sống ở đó. Cháu đă quen biết những người
hàng xóm và đôi lúc gọi điện thoại cho
họ. Chúng tôi thử đưa cháu đến Xưởng
Lao động Bảo trợ (Sheltered Workshop: Những xưởng lao động
đặc biệt cho người khuyết tật,
thiểu năng) và Trung tâm Dạy nghề ở Tỉnh.
Cháu đă ham thích ngay, kết thân với các giáo viên và
được một số học viên khác giúp đỡ.
Qua các mối quan hệ ở đó, cháu đă học chơi
bowling và chơi rất khá… Creighton được xưởng
giao cho một công việc thường lệ là vận hành
các máy đóng khuôn. Kể từ ngày 25/ 11/ 1969, cháu vào làm
việc hằng ngày tại văn pḥng của Cơ quan
về Ô nhiễm Không khí Quốc gia (HEW)”. Một lá thư
từ vị quyền giám đốc cơ quan ngày 29/ 4/
1970 có ghi: “Creighton là một nhân viên xuất sắc
về mọi tiêu chuẩn. Xuất sắc đối
với tôi có nghĩa là đáng tin cậy, cẩn
trọng và có quan tâm đến các đồng sự. Lúc
nào Creighton cũng là người đáng cho người khác
chú ư”.
Ca
thứ 3
Richard M. được 39 tháng tuổi khi
đưa đến Bệnh viện John Hopkins vào ngày 5/ 2/
1941, với than phiền của người nhà là cháu
bị điếc bởi v́ “nó không nói chuyện và không
đáp lại những câu hỏi của người khác”.
Vị bác sĩ nhi khoa khám cho đứa trẻ đă báo
cáo: “Đứa trẻ có vẻ khá thông minh, nằm trên
giường chơi đồ chơi và có vẻ khá ṭ ṃ
đối với các dụng cụ khám bệnh. Nó dường
như khá tự lập trong khi chơi. Nó tuân theo các
mệnh lệnh như ‘ngồi dậy’ hoặc
‘nằm xuống’, ngay cả khi nó không nh́n vào người
nói. Nó không chú ư ǵ đến những lời nói
chuyện xảy ra xung quanh, và mặc dù có thể phát
được các âm thanh nhưng nó vẫn không nói
được những từ có nghĩa”.
Cha của Richard là một giáo sư lâm
học, rất say mê với công việc đến mức
gần như không quan tâm đến các quan hệ xă
hội bên ngoài. Mẹ tốt nghiệp đại học.
Gia đ́nh, cả bên nội và bên ngoại, đều
gồm những người có nghề chuyên môn. Em trai
của Richard được mô tả là một đứa
trẻ b́nh thường và phát triển tốt.
Richard sinh b́nh thường, biết ngồi
lúc 8 tháng và biết đi lúc 1 tuổi. Từ lúc 3
tuần tuổi, người mẹ bắt đầu
“tập” cho trẻ bằng cách dùng một viên tọa dược (Suppository: thuốc nhét hậu môn) vào
mỗi buổi sáng “để cháu biết đi tiêu
đúng giờ”. Việc dinh dưỡng và tăng trưởng
về thể chất diễn tiến thuận lợi.
Vào tháng 9/ 1940, người mẹ viết:
“Tôi không thể biết chắc được khi nào th́
cháu ngừng bắt chước những lời nói
của người khác. Dường như về mặt
tinh thần cháu đang bị thoái lùi. Chúng tôi nghĩ
việc này là do cháu đă không bộc lộ được
những ǵ bên trong đầu của cháu, dù trong ấy
vẫn ổn cả. Giờ th́ cháu đă phát được
rất nhiều âm thanh, nhưng điều này khiến chúng
tôi bối rối v́ rơ ràng là cháu vẫn không biết nói.
Trước đây, tôi nghĩ rằng rằng sau này cháu
sẽ biết nói. Cháu gây cho tôi ấn tượng về
một sự thông thái thầm lặng… Một điều
đáng hoang mang và nản ḷng là rất khó có thể gây
được sự chú ư của cháu”.
Richard được thấy là có sức
khỏe tốt, ngoại trừ các amiđan và V.A. sưng
to, và đă được cắt bỏ vào ngày 8/ 2/ 1941.
Điện năo đồ b́nh thường.
Cậu sẵn ḷng để người nhà
dẫn đến pḥng khám và ngay lập tức chủ
động chơi với các đồ chơi, chẳng
để ư ǵ đến ai trong pḥng. Thỉnh thoảng,
cậu nh́n lên tường, cười và phát ra những
âm thanh thô ngắn. Cậu làm theo yêu cầu bằng
lời nói và cử điệu bảo cậu cởi dép
(sau đó đôi dép lại được mang vào). Khi yêu
cầu được nói mà không dùng kèm cử điệu,
cậu lại cởi bỏ đôi dép lần nữa.
Richard được khám lại vào lúc 4
tuổi rưỡi. Cậu tăng trưởng khá đáng
kể và thừa cân. Cậu lập tức tắc mở các
ngọn đèn. Cậu chẳng chú ư ǵ đến người
khám hoặc bất cứ ai khác nhưng lại rất chú
tâm đến một chiếc hộp nhỏ và tung ném cái
hộp như thể đó là một trái banh.
Lúc gần 5 tuổi, động tác đầu
tiên của cậu khi bước vào pḥng khám là tắc
mở các ngọn đèn. Cậu leo lên một chiếc
ghế, và từ ghế leo lên bàn làm việc để
với tay chạm đến công tắc của bóng đèn
treo tường. Cậu không tiếp xúc với người
khác, mà rơ ràng xem đây như những kẻ quấy
rầy khi họ nói với cậu hoặc muốn gây
sự chú ư của cậu.
Người mẹ cảm thấy ḿnh không
có khả năng quản lư con ḿnh, và cậu được
vào một nhà giữ trẻ do một phụ nữ có tài
đặc biệt trong việc trông nom những đứa
trẻ khó nuôi. Sau khi thay đổi hai nhà giữ trẻ,
cậu được đưa vào một trường
dạy trẻ cá biệt của tiểu bang vào tháng 5/
1946. Một báo cáo đề ngày 23/ 6/ 1954 có ghi: “Nhà trường
nhận đứa trẻ này chủ yếu là để
trông giữ (Nguyên văn: “…as essentially a custodial
problem…”), v́ vậy, cháu được bố trí vào
một nhóm trẻ có cùng chế độ chăm sóc như
vậy”.
Richard nay đă được 33 tuổi. Vào
năm 1964, cậu được chuyển sang một
viện khác cùng tiểu bang. Vị giám thị đă
viết vào ngày 29/ 9/ 1970: “Vào lúc nhập viện, các
thuốc an thần đă được sử dụng
nhiều đến mức có thể gây ngộ độc.
Sau 3 tháng, đứa trẻ đă biểu hiện sự
nhận biết môi trường xung quanh, bắt đầu
biết chăm sóc và tự đi nhà vệ sinh. Hiện
cậu vẫn được dùng thuốc Compazine, 45mg, 3
lần mỗi ngày… Được bố trí ở trong
một căn nhà dành cho những bệnh nhân lớn
tuổi có thể tự chăm sóc những nhu cầu
của bản thân. Cậu có đáp ứng khi được
gọi tên và làm theo một số yêu cầu đơn
giản, biết một số cách giao tiếp không dùng
lời nói với những nhân viên ở đó. Cậu
vẫn tiếp tục khép kín và không tham gia vào bất
cứ hoạt động có tổ chức nào cả”.
Ca
thứ 4
Paul G. được 5 tuổi khi đến
Khoa chúng tôi vào ngày 21/ 3/ 1941, nhằm để “xác định
mức độ đần độn của cháu”. Đứa
trẻ có tiền sử sinh b́nh thường. Các mốc
phát triển lúc đầu đều diễn ra thuận
lợi. Phát âm rơ ràng và có một vốn từ khá
nhiều.
Cha, một kỹ sư khoáng sản, đă
rời gia đ́nh vào năm 1939 “sau một cuộc hôn nhân
không hạnh phúc”. Người mẹ, một “phụ
nữ hay bồn chồn, bất ổn định và cáu
kỉnh” rời Luân Đôn sang Hoa Kỳ, đă kể
lại một câu chuyện khá mâu thuẫn về những
cố gắng của bà nhằm giúp cho Paul trở nên thông
minh hơn bằng cách dậy nó nhớ những bài thơ
và bài hát. Lúc 3 tuổi “cháu biết được
lời của hơn 37 bài hát và nhạc thiếu nhi”.
Paul là đứa bé mảnh khảnh, dễ
nh́n. Cậu bé rất khéo tay. Hiếm khi cậu đáp
ứng với lời nói, cả khi được gọi
tên. Đôi khi một giọng nói mạnh mẽ bảo “Đừng”
có thể khiến cậu ngưng hành động đang làm,
nhưng thường th́ khi được nói đến,
cậu vẫn tiếp tục những ǵ mà cậu đang
làm. Cậu luôn luôn hoạt bát bận rộn làm một
việc ǵ đó và có vẻ rất tự thỏa măn
với chính ḿnh, trừ khi có ai đó cố can thiệp vào
chuyện của cậu. Khi bị can thiệp, đầu
tiên cậu sẽ tránh né, nhưng nếu không tránh
được cậu sẽ la hét hoặc lên cơn
nổi cáu thực sự… Có một sự trái ngược
rơ ràng giữ cách quan hệ của cậu với người
và với đồ vật. Ngay khi bước vào pḥng,
cậu đến các món đồ chơi và sử
dụng chúng thật đúng cách. Cậu mở một cái
hộp, lấy ra một điện thoại đồ chơi,
hát đi hát lại “nó muốn một cái điện
thoại”, và đi quanh pḥng tay cầm điện
thoại với ống nghe và ống nói đặt đúng
vị trí. Cậu cầm kéo cắt một miếng
giấy thành nhiều mảnh nhỏ rồi hát nhiều
lần “cắt giấy”. Cậu cầm một động
cơ đồ chơi, giơ cao và chạy quanh pḥng, hát
đi hát lại câu “cái máy đang bay”. Một số
lời nói của cậu không liên quan ǵ đến t́nh
huống đang xảy ra. Ví dụ: “Người ta ở
trong khách sạn”, “Mày có đau chân không?”, “Kẹo
hết rồi”. Việc nêu lên những chú ư về các
thương tích ở thân thể chiếm một phần
quan trọng trong các lời nói của đứa trẻ.
Tất cả các câu nói về bản thân ḿnh đều
được gọi dưới h́nh thức ngôi thứ
hai, như thể cậu đang lập lại lời nói
của người khác đă nói với cậu trước
đó. Khi muốn ăn kẹo, cậu nói: “Mày muốn
kẹo”; rút tay khỏi ḷ sưởi đang nóng, cậu
nói: “Mày bị đau”.
Khi người mẹ sang Mỹ, bà giao Paul
cho một phụ nữ đang quản lư một ngôi nhà
nhỏ nuôi những trẻ chậm phát triển. Bà
rời xa con một thời gian vào khoảng cuối năm
1941. Bà gửi một lá thư đầy vẻ thiện
chí đến Khoa chúng tôi nhưng không duy tŕ các cuộc
hẹn sau đó. Bà đến tư vấn BS. Walter Kingman
năm 1941, BS. Samuel Orton năm 1943, đưa Paul vào trường
Devereux năm 1945, nhưng lại quyết định
rằng đây không phải là nơi thích hợp cho Paul.
Dấu vết của hai mẹ con kết thúc tại đây,
và từ đó người ta không c̣n biết được
chỗ ở của họ.
Ca
thứ 5
Barbara K. được 8 tuổi trong lần
gặp đầu tiên tại Khoa vào ngày 7/ 2/ 1942. Người
cha, một thầy thuốc nổi tiếng, đă ghi chú
như sau:
“Con đầu ḷng, sinh thường ngày
30/ 10/ 1933. Bú kém và phải bú b́nh sau 1 tuần tuổi. Lúc
3 tháng, hoàn toàn bỏ bú. Được nuôi bằng
ống thông mỗi ngày 5 lần cho đến 1 tuổi.
Từ đó, cháu bắt đầu ăn, mặc dù
rất khó khăn, cho đến 18 tháng tuổi. Kể
từ đó, ăn tốt, thích thử và nếm thức
ăn, nay thích việc nấu nướng… Vốn từ
b́nh thường lúc 2 tuổi, nhưng luôn chậm trong
việc ghép từ thành câu. Có khả năng đánh
vần, đọc và viết tốt, nhưng vẫn khó khăn
trong việc diễn đạt bằng lời nói. Không
thể làm toán ngoại trừ khi phải dụng công
để nhớ… Lập đi lập lại như
một đứa bé con và nay vẫn c̣n tính cách ám
ảnh; cầm đồ vật trên tay, đem đồ
vật vào giường ngủ, lập lại những câu
nói, bám chặt lấy những ư nghĩ hoặc tṛ chơi
nhưng tiến hành khó khăn, rồi lại chuyển
sang một thứ khác. Cháu thường qquen dùng chữ
‘mày’ để chỉ bản thân ḿnh và ‘tôi’ để
chỉ mẹ cháu hoặc tôi (người cha), như
thể cháu đang nói những điều mà chúng ta
sẽ nói khi nói chuyện với cháu… Rất e ngại,
sợ các sự vật bị thay đổi đi, sợ
gió và các thú vật lớn, vv… Rất thụ động,
nhưng đôi lúc lại trây ĺ ương bướng.
Nếu nghe tiếng ai (cháu thực sự nghe được!)
cũng không màng chú ư xem người nói ở đâu. Không
có tinh thần tranh đua, không có ước muốn làm
vui ḷng giáo viên. Nếu cháu có biết thêm điều ǵ
về ai đó trong lớp học, th́ cháu cũng chẳng
tỏ ra có dấu hiệu ǵ là cháu biết, chỉ yên
lặng, thậm chí có lẽ không nghe ǵ cả… Tại
trại hè vừa qua, cháu được mọi người
yêu thích, học bơi, và rất vui vẻ khi xuống nước
(trước đó cháu luôn có động tác lúng túng),
hết sợ ngựa con, chơi tốt với những
trẻ con 5 tuổi. Tại trại hè, cháu bị suy dinh dưỡng
và thiếu các vitamin nhưng hầu như chẳng buông
lời than phiền nào”.
Mẹ Barbara là một phụ nữ tử
tế và được giáo dục tốt. Có một em
trai sinh năm 1937, khỏe mạnh, năng động và phát
triển tốt.
Barbara biết “bắt tay” khi được
yêu cầu (đưa tay trái chứ không đưa tay
phải) chỉ bằng cách đưa tay về hướng
của người đang đưa tay ra với nó,
một động tác thiếu hẳn ư nghĩa là để
chào hỏi. Trong suốt buổi khám, không có bất
kỳ dấu hiệu nào cho thấy đứa trẻ có
sự quan hệ về cảm xúc. Một mũi kim chích vào
tay làm cô bé rút tay lại, tỏ vẻ sợ sệt nh́n
cây kim (chứ không nh́n người khám), và thốt lên
“Đau”, không có vẻ ǵ là đang nói với ai
cả.
Cô bé đọc rất tốt, có thể
đọc xong câu chuyện đám cháy trong trắc
nghiệm trẻ 10 tuổi của Binet (Tác giả các trắc nghiệm đo lường
trí thông minh của trẻ em) trong ṿng 33 giây mà không có
lỗi nào. Trong các bức tranh của Binet, cô không
thấy (hoặc ít nhất là không báo cáo) một hành
động hoặc một mối liên hệ nào giữa các
chi tiết đơn lẻ, những chi tiết mà cô có
thể liệt kê ra không mấy khó khăn. Chữ
viết dễ đọc. Các bức vẽ của cô có tính
rập khuôn và thiếu trí tưởng tượng. Cô
quen dùng tay phải để viết, tay trái để làm
các việc khác; thuận chân trái và thuận mắt
phải.
Cô biết được các ngày trong
tuần. Cô bắt đầu gọi tên chúng “Thứ
bảy”, “Chủ nhật”, “Thứ hai”, rồi nói
“Mày tới trường” (nghĩa là “vào ngày thứ
hai”), sau đó ngưng nói như thể việc làm đă
hoàn tất.
Trong suốt thời gian khám, cô thường
tự động viết ngoáy những chữ như
“cam”, “chanh”, “chuối”, “nho”, “sơ-ri”, “táo”,
“mơ”, “quít”, “bưởi”, “dưa hấu”; các
chữ viết đôi khi chồng lên nhau và rơ ràng là không
phải viết ra để người khác đọc.
Người mẹ lưu ư: “Cháu mê
mẫn những thứ phụ vặt, như là một cái
ống khói hoặc một con lắc”. Người cha trước
đó cho biết: “Gần đây có quan tâm đến
giới tính, leo tường khi chúng tôi đi tắm, và thích
thú nhà vệ sinh một cách có tính ám ảnh”.
Barbara được đưa vào trường
Devereux mùa hè năm 1942 và ở đó cho đến tháng
6/ 1952 th́ được chuyển vào Bệnh viện
Springfield của tiểu bang (Maryland) và cô hiện vẫn c̣n
đang ở đó. Năm nay cô đă 37 tuổi. Một
bản ghi chú của bác sĩ điều trị cho cô
tại khoa ngày 8/10/1970 ghi: “Cô vẫn có kiểu cười
rập khuôn, vẻ mặt giống như một bé gái
với động tác nhe miệng không diễn cảm,
một giọng nói giống trẻ nít khi thốt ra
những lời lập đi lập lại như vẹc.
Mỗi khi tôi đi ngang qua khoa pḥng của cô, cô đều
chào hỏi tôi như sau: ‘Bác sĩ, có lần tôi đă
đấm ông một cái, ông biết không?’ Cô thường
đi rất sát vào tác giả khi ông theo cô vào pḥng khám…
Cô vẫn c̣n thiếu hoàn toàn khả năng đặt câu
nói một cách tự nhiên; vẫn những câu tương
tự được dùng đi dùng lại với cùng
một ngữ điệu không đổi. Tâm trí cô như
bị cố định vào những chủ đề không
đổi, mà nó có thể hơi biến đổi
một mức độ nào đó tùy theo người mà cô
đang giao tiếp. Ngoài những việc này ra, cô vẫn
như một đứa trẻ, bốc đồng, dễ
lên cơn nổi cáu, giẫm chân, la hét và gây phiền
phức cho những bệnh nhân khác. Trí nhớ của cô
gần như c̣n nguyên vẹn. Cô thích hát một số
giai điệu với một giọng hát đơn điệu
tẻ nhạt, bất cứ khi nào cô thích hát, cô thường
nện mạnh vào chiếc đàn piano những bài hát mà
cô đă biết”.
Ca
thứ 6
Virginia S. sinh ngày 13/ 9/ 1931, được
đưa vào trường dạy trẻ chậm phát
triển của tiểu bang từ năm 1936. BS. Esther L.
Richards, người khám cho cô bé ở đó đă
viết vào tháng 5/1941: “Virginia nổi bật lên trong đám
trẻ bởi v́ cháu hoàn toàn khác biệt hẳn so
với bất kỳ đứa trẻ nào khác. Cháu
sạch sẽ và ngăn nắp, không chơi với các
bạn, dường như không điếc nhưng lại
không nói. Cháu tự vui một ḿnh bằng cách ngồi chơi
xếp h́nh trong nhiều giờ, không bỏ dở tṛ chơi
đến khi các h́nh được xếp xong. Tôi đă
thấy cháu chơi với một chiếc hộp chất
đầy những mẫu rời của hai bộ xếp
h́nh và đă dần dần lọc loại ra từng
mẫu riêng cho mỗi bộ. Tất cả các dấu
hiệu nơi cháu về bản chất có vẻ là
một t́nh trạng bất thường bẩm sinh”.
Virginia là con gái của một bác sĩ tâm
thần, người đă tự nói về ḿnh: “Tôi
chẳng bao giờ thích trẻ con, có lẽ là một
phản ứng về phần tôi đối với sự
bó buộc phải ở một chỗ, bị gián đoạn
công việc và bị tiếng ồn ào quấy rầy”.
Về phần vợ ḿnh, ông nói: “Cô ấy chẳng có
vẻ ǵ là một người mẹ cả. Thái độ
của cô ấy (đối với một đứa
trẻ) giống như đối với một con búp bê
hay một con vật nuôi trong nhà hơn bất cứ
thứ ǵ khác”. Anh trai của Virginia, lớn hơn cô 5
tuổi, cũng được đưa đến
với chúng tôi v́ lư do bị nói lắp nặng lúc 15
tuổi. Cậu đă bậc khóc khi chúng tôi hỏi
về những chuyện xảy ra ở nhà và nói nức
nở: “Cha tôi chỉ có việc để làm với tôi
khi ông quở trách khi tôi đă làm sai điều ǵ đó”.
Mẹ cậu lại càng ít tham gia hơn nữa. Cậu
cảm thấy suốt đời ḿnh chỉ sống trong
bầu “không khí lạnh lẽo” với hai người
xa lạ không thể gần gũi được.
Vào tháng 8/ 1938, nhà tâm lư của trường
quan sát thấy rằng Virginia “chẳng hề chú ư đến
những ǵ người khác nói với cô nhưng có
thể nhanh chóng hiểu được những ǵ người
khác trông mong ở cô. Hiệu quả học tập
của cô phản ánh sự sáng suốt, thận trọng
và chính xác”. Với các tiết mục không dùng lời nói
trong trắc nghiệm trí thông minh cô đạt được
một chỉ số IQ là 94. “Không nghi ngờ ǵ nữa,
trí thông minh của cô là rất tốt về mặt này…
Cô bé hay im lặng, nghiêm nghị và trầm tĩnh. Không
một lần nào tôi trông thấy cô cười. Cô
tự rút lui vào chính ḿnh, tách biệt với những người
khác. Cô dường như đang ở trong một thế
giới riêng, lăng quên mọi thứ nhưng lại là
trung tâm của sự chú ư khi ở vào t́nh huống
phải có trách nhiệm. Cô bé hầu như rất độc
lập và không cần đến ai. Khi có ai đó xâm
phạm đến sự toàn vẹn của cô, cô chịu
đựng họ với vẻ thờ ơ xa cách. Không có
biểu hiện ǵ về sự thân thiện hoặc thích
thú với con người. Mặt khác, cô lại thấy
thích thú khi cư xử với những đồ vật,
với chúng cô tỏ ra có trí tưởng tượng và
biết cách bắt đầu”.
Khi được khám ngày 11/ 10/ 1942, Virginia
là một bé gái cao, mảnh khảnh, ăn mặc tề
chỉnh. Cô bé đáp ứng khi được gọi
bằng cách ngồi dậy, tiến đến gần nhưng
không hề nh́n vào người đă gọi cô. Cô
chỉ đứng ơ thờ, nh́n vào khoảng không.
Thỉnh thoảng, khi trả lời những câu hỏi, cô
th́ thầm “Mẹ, em bé”. Khi một nhóm trẻ đứng
xung quanh chiếc đàn piano, một trẻ ngồi chơi
đàn c̣n những đứa khác th́ hát, cô bé đă
đứng trong đám trẻ, dường như chẳng
chú ư đến điều ǵ và tạo cho ta ấn tượng
cô chỉ quan tâm đến bản thân ḿnh mà thôi. Cô dường
như cũng không chú ư đến cả khi bọn
trẻ ngưng hát. Khi nhóm trẻ giải tán, cô không thay
đổi vị trí của ḿnh và dường như không
nhận ra sự thay đổi quang cảnh xung quanh. Cô có
một diện mạo thông minh, dù biểu hiện của
đôi mắt có vẻ buồn bă.
Virginia nay sắp sửa 40 tuổi vào tháng 9
tới (Tức tháng 9/ 1971 - N.D.). Cô đă
được chuyển đến Bệnh viện Henryton
của tiểu bang. Bản báo cáo từ nơi đó vào
ngày 2/ 11/ 1970, ghi: “Cô đang ở trong một chương
tŕnh dành cho những người lớn bị chậm phát
triển. Cô có thể nghe, tuân theo những chỉ dẫn
và hướng dẫn. Cô có thể phân biệt các màu
sắc và có thể nói được giờ giấc. Có
thể tự chăm sóc các nhu cầu cơ bản của
bản thân, nhưng phải bảo mới làm. Virginia thích
tṛ chơi xếp h́nh và làm diều đó rất tốt,
chỉ thích làm một ḿnh. Cô có thể ủi quần áo.
Cô không thể nói, chỉ dùng những tiếng kêu và
cử chỉ, nhưng dường như hiểu được
khi quan hệ. Cô muốn ở một ḿnh hơn là quan
hệ với những bệnh nhân khác”.
Ca
thứ 7
Herbert B. được mẹ đưa
đến Khoa vào ngày 5/ 2/ 1941.
Sinh ngày 18/ 11/ 1937, hai tuần trước ngày
dự sanh bằng cách mổ bắt con; từ lúc sinh ra cho
đến 3 tháng tuổi, đứa trẻ ói ra tất
cả thức ăn được đưa vào. Sau đó,
việc dinh dưỡng diễn ra thuận lợi. Biết
ngồi lúc 8 tháng, nhưng không biết đi măi cho đến
2 tuổi, khi đó cậu bé “đột ngột đứng
dậy và đi mà trước đó không cần có giai
đoạn ḅ hoặc đứng vịn ghế”. Cậu
thường hay từ chối uống nước chứa
trong bất kỳ loại vật đựng nào ngoại
trừ những vật được làm hoàn toàn làm
bằng thủy tinh. Có lúc người ta tin rằng
cậu bị điếc bởi v́ “khi được người
khác nói đến, cháu không mảy may thay đổi
vẻ biểu hiện và cũng không có cố gắng nào
để nói chuyện”. Cậu trở nên bực bội
khi các khuôn mẫu quen thuộc bị thay đổi dưới
bất kỳ h́nh thức nào. “Khi thấy có sự thay
đổi, cháu la om ṣm và khóc lóc, nhưng tự cháu
lại thường hay kéo lên kéo xuống các bức rèm
che cửa, đóng mở các cửa ra vào, và xé các
hộp đựng bằng giấy các-tông thành những
mảnh nhỏ rồi chơi với chúng trong nhiều
giờ”.
Cha mẹ cậu ly thân một thời gian
ngắn sau khi cậu ra đời. Người cha, một
bác sĩ tâm thần, được mô tả là “thông
minh hơn người, nhạy cảm, năng động,
nghiêm túc, không quan tâm đến người khác, hầu
như chỉ thích sống với bản thân ḿnh”.
Mẹ, một bác sĩ nhi khoa, tự nói về ḿnh như
là một người “đầy nghị lực và
cởi mở, ưa thích mọi người nhưng không
có nhiều khả năng trực giác về các vấn
đề của họ”. Herbert là con út trong số 3 người
con. Người mẹ c̣n giữ lại những quyển
nhật kư đồ sộ viết về từng đứa
con của bà, đặc biệt là đứa con gái sinh năm
1934 mà trong vài năm đầu đă “muốn ở
một ḿnh, giả lơ người khác, khi nói đảo
lộn đại từ xưng hô, đầu tiên
được xem là đần độn, sau đó
được chẩn đoán là tâm thần phân liệt,
nhưng rồi lại phát triển lành mạnh sau khi cha
mẹ ly thân”. Vào lúc Herbert đến khám lần đầu
tiên tại Khoa, đứa con gái được đến
trường học, có chỉ số IQ là 108, và “mặc
dù c̣n nhạy cảm và khá lo lắng, nó vẫn quan tâm
đến người khác và quan hệ tốt với
họ”.
Herbert có một diện mạo rất khôi
ngô và khả năng điều phối động tác
rất tốt. Cậu thể hiện một khả năng
đáng ngạc nhiên trong việc theo đuổi các
mục đích mà cậu tự lựa chọn. Trong
một đám các h́nh khối, cậu nhận ra ngay
những khối nào gắn được vào bảng và
khối nào có thể tháo rời được. Cậu có
thể chồng một tháp h́nh khối rất thành
thạo và có chiều cao ngang bằng với h́nh tháp
được làm bởi bất cứ đứa trẻ
nào cùng tuổi, thậm chí hơn cả tuổi của
cậu. Cậu rất bực tức khi bị người
khác can thiệp, xô đẩy kẻ xâm phạm ra chỗ
khác (mà không nh́n vào mặt họ), hoặc sẽ la hét
khi việc xô đẩy này không có tác dụng.
Cậu được khám lại lúc 4
tuổi rưỡi và lúc 5 tuổi. Cả hai lần
cậu đều bước vào pḥng khám mà không mảy
may chú ư ǵ đến những người hiện
diện ở đó. Cậu bước ra sau tấm
bảng gắn h́nh, rồi luôn tay gắn các h́nh lên
thật đúng vị trí, rồi lại tháo gỡ chúng
ra một cách nhanh chóng và khéo léo. Khi bị ai can thiệp,
cậu tỏ vẻ mất kiên nhẫn và khóc. Khi một
h́nh nào đó bị lén lấy đi ra khỏi tấm
bảng, cậu nhận ra ngay sự thiếu sót ấy,
trở nên bối rối, nhưng sẽ quên ngay tất
cả khi h́nh được gắn trả lại. Lúc
đă ổn định lại, có vài lần cậu
nhảy lên nhảy xuống với một vẻ sung sướng
xuất thần. Cậu hoàn toàn bị cuốn hút vào
những ǵ mà cậu đă làm. Cậu chẳng bao giờ
cười. Đôi khi cậu cũng phát ra những âm
thanh thiếu mạch lạc dưới dạng một bài
hát đơn điệu tẻ nhạt. Có một lúc,
cậu đánh vào chân người mẹ và dùng môi
chạm vào đó. Cậu cũng thường đưa các
h́nh khối và các vật khác chạm vào môi. Có một
sự giống nhau gần như là một “ảnh
chụp” về các hành vi của cậu giữa hai
lần khám đó.
Sau một thời gian ngắn ở tại Cơ
sở Emma Pendleton Bradley, tại Rhode Island, và một cơ
sở khác tại Twin Maples, (“một trường dành cho
trẻ có vấn đề”) Baltimore, cậu được
mẹ đưa đến chỗ ông bà Moreland, hai người
này có một trang trại ở Maryland. Ngay từ đầu,
cậu đă có vẻ sung sướng khi được
ở đó. Cậu đi theo người chủ trại làm
việc và phụ giúp ông ta “làm các việc trong kho thóc”.
Bà Moreland báo cáo vào tháng 10/ 1950: “Cháu đă biết đi
lại trong các khu vực gần nông trại, có thể
đi xa nhiều dặm và trở về mà không bị
lạc đường. Cháu học cách cưa gỗ,
sử dụng máy xén cỏ chạy bằng điện,
vun lại băi cỏ, bày bàn ăn một cách hoàn hảo,
và chơi tṛ xếp h́nh trong thời gian rănh rỗi. Cháu
là một đứa trẻ ngoan và dễ dạy bảo.
Thỉnh thoảng cháu bị bực bội khi các dự
định th́nh ĺnh bị thay đổi… Khi mẹ đến
thăm, cháu chỉ chú tâm đến chính ḿnh và không
đến với mẹ”. Sau cái chết của ông
Moreland, người vợ quá của ông đă mở ra
một nhà nuôi người già. Herbert ở lại với
bà, giúp dẫn những cụ bà đi dạo ngoài
trời, mang khay đựng vật dụng đến pḥng
cho họ nhưng chẳng bao giờ nói chuyện.
Mẹ của cậu, sau thời gian làm
việc như một nhân viên sức khỏe công cộng
tại Maryland, đă dành ra vài năm (1953-1958) để ra
nước ngoài – bà đến Iraq và Hy Lạp. Lúc
trở về, bà nhận việc tại Atlanta, bang Georgia. Bà
mất vào năm 1965.
Herbert năm nay 33 tuổi. Cha cậu đă
viết vào ngày 5/ 1/ 1971 rằng: “Cháu vẫn c̣n ở
với mọi người tại Maryland. Đă vài năm
không gặp cháu, nhưng tôi có thể nói rằng cháu
vẫn chẳng có thay đổi ǵ quan trọng. Hơn
bất cứ thứ ǵ khác, cháu chỉ thích chơi tṛ
xếp h́nh, tṛ chơi mà cháu làm với kỹ năng
tốt nhất”.
Một lá thư do người mẹ
viết một thời gian ngắn trước khi bà
chết có lời than thở như sau: “Cuộc hôn nhân
của chúng tôi dường như đă tạo ra ba đứa
con bị què quặt về tâm lư. Dorothy sau một cuộc
hôn nhân đầy thảm họa đang ở nhà với
một đứa con gái bé nhỏ và đang cố tự
lực bằng công việc điều dưỡng làm bán
thời gian tại một bệnh viện địa phương.
Dave đang ở Bờ Tây và mỗi tháng tiêu tốn
của tôi hết 450.000 đôla v́ phải điều
trị bệnh tâm thần”.
Dorothy là người bảo hộ của
Herbert theo luật định.
Ca
thứ 8
Alfred L. được mẹ đưa đến
Khoa vào tháng 11/ 1935, lúc 3 tuổi rưỡi với
biểu hiện: “Cháu dần dần có khuynh hướng
h́nh thành một mối quan tâm đặc biệt lấn
át hết cả các hoạt động thường ngày.
Cháu ít nói về điều ǵ khác khi mối quan tâm
ấy hiện diện, cháu cáu kỉnh khi không thể
thụ hưởng được điều đó và khó
có thể gợi được sự chú ư của cháu v́
nó măi bận rộn với chuyện này… Cũng có
vấn đề quá gắn bó với các đồ
vật và không có khả năng h́nh thành một số
những nhận thức về mặt xă hội… Ngôn
ngữ phát triển chậm và dường như cháu cũng
chẳng hề quan tâm. Cháu ít khi kể về những
việc cháu đă trải qua. Cháu vẫn lẫn lộn
giữa các đại từ. Chẳng bao giờ đặt
được câu hỏi để hỏi. Từ khi nói
được, cháu có khuynh hướng lập đi
lập lại măi một từ hoặc một câu nào
đó. Cháu chẳng bao giờ nói một câu mà không
lập đi lập lại nhiều lần. Hôm qua, khi xem
một bức tranh, cháu đă nói nhiều lần câu:
‘Mấy con ḅ đứng trong nước’. Chúng tôi
đếm được có đến 50 lần cháu
lập lại, rồi nó ngưng lại và bắt đầu
lập lại câu nói… Cháu bực bội khi bánh ḿ
được đặt lên ḷ để làm thành bánh ḿ
nướng, lo sợ nó sẽ bị phỏng và đau. Cháu
cũng khó chịu khi mặt trời lặn hoặc khi
thấy mặt trăng không luôn luôn xuất hiện trên
bầu trời mỗi đêm. Cháu thích chơi một ḿnh;
cháu rời khỏi bộ dụng cụ thể dục ngay
khi có đứa trẻ khác đến gần. Cháu thích dùng
những chiếc hộp lớn làm thành một vật ǵ
đó (như một chiếc xe đẩy chẳng
hạn) và không muốn ai can thiệp vào”.
Alfred sinh ngày 20/ 6/ 1932. Trong hai tháng đầu,
“Chế độ dinh dưỡng khiến người khác
phải lưu tâm nhiều, nhưng từ sau đó nó tăng
câu nhanh chóng và trở nên lớn con hơn b́nh thường”.
Biết ngồi lúc 5 tháng và đi lúc 14 tháng tuổi. Nói
từ đầu tiên lúc 1 tuổi. Lúc 22 tháng tuổi,
nuốt phải những miếng bông từ con thỏ
Phục Sinh làm bằng vải, một ít bị mắc vào
khí quản khiến cậu phải được gây mê và
mở khí quản để thở.
Là con một. Cha, một nhà hóa học và
luật sư mới tốt nghiệp, được mô
tả là “người đa nghi, dễ nổi giận, dành
thời gian rănh để đọc sách, làm vườn và
câu cá, rất miễn cưỡng khi thăm viếng
bạn bè”. Mẹ, một nhà tâm lư lâm sàng, “có tính ám
ảnh và dễ kích động”, là phụ huynh duy
nhất tại Khoa chúng tôi không cho phép ai ghi chép lại
điều ǵ khi bà khai bệnh sử. Bà rời bỏ
chồng 2 tháng sau khi Alfred ra đời, cả hai về
sống với ông bà ngoại, tại một ngôi nhà mà người
mẹ điều hành một nhà trẻ và mẫu giáo. Ông
ngoại, một nhà tâm lư, cũng có t́nh trạng ám
ảnh – thúc ép (Obsessive-compulsive) trầm trọng, và có t́nh trạng máy cơ (Tics) rất nhiều.
Alfred, khi đến pḥng khám, chụp ngay
một chiếc xe lửa trên tủ đồ chơi,
lấy ra, gắn chiếc xe lửa vào chiếc xe hơi,
rồi tháo ra bằng một cách thức rất đơn
điệu. Cậu cứ nói măi nhiều lần “Thêm xe
lửa – Thêm xe lửa”. Cậu “đếm” những
cửa sổ xe hơi “Một, hai cửa sổ, bốn
cửa sổ, tám cửa sổ”. Không ai có thể
khiến cậu rời khỏi những chiếc xe lửa.
Một trắc nghiệm Binet được thử cho
cậu làm trong một căn pḥng không để những
chiếc xe lửa. Điều đó đă có thể làm
được sau nhiều khó khăn để phá vỡ
những quan tâm bận rộn của cậu. Cuối cùng
cậu cũng đă thực hiện được và rơ
ràng là cậu muốn làm để giải quyết cho
xong sự xâm phạm này. Cậu đạt được
chỉ số IQ bằng 140.
Người mẹ không đưa cậu
trở lại sau lần khám đầu tiên ấy bởi
v́ “cháu vẫn tiếp tục căng thẳng khi gặp
với thầy thuốc”. Tháng 8/ 1938, khi được yêu
cầu, bà đă gửi cho chúng tôi một lá thư trong
đó có những ḍng sau: “Cháu được người
ta gọi là con sói cô độc. Cháu thích chơi một ḿnh
và thường tránh né những nhóm trẻ con đang vui
chơi. Cháu không chú ư đến người lớn
trừ khi muốn đọc truyện. Cháu tránh né sự
ganh đua. Cháu đọc cho chính ḿnh nghe những câu
chuyện đơn giản. Cháu rất sợ bị đau
đớn; cháu nói rất nhiều về việc sử
dụng ghế điện”.
Đứa trẻ được khám
lại vào tháng 6/ 1941. Cha mẹ cậu đă quyết
định trở lại sống chung. Trước
thời điểm đó, Alfred đă trải qua 11 trường
học khác nhau. Cậu thường phải nằm nhà v́
bị cảm cúm, viêm phế quản, thủy đậu,
chốc lở, và một t́nh trạng bệnh mơ hồ
mà người mẹ cho là bệnh thấp (Rheumatoid fever).
Alfred rất nghiêm trang và dễ căng
thẳng; nếu không v́ giọng nói c̣n vẻ trẻ
trung, cậu có thể gây cho ta ấn tượng về
một ông cụ non hay lo lắng. Cùng thời gian đó,
cậu có vẻ bồn chồn và biểu hiện một
áp lực đáng kể khi nói chuyện, những lời nói
của cậu bao gồm nhiều câu hỏi có tính ám
ảnh về các cửa sổ, những bóng râm, những
căn pḥng tối, đặc biệt là pḥng chụp phim
X quang. Cậu chẳng bao giờ cười. Giữa
những lúc ấy, cậu thường trả lời
những lời hỏi, mà thường là theo kiểu
lập đi lập lại. Cậu luôn luôn có vẻ đặc
trưng rất cầu kỳ trong những cách định
nghĩa của ḿnh. Một bong bóng là cái “được
làm từ cao su, có không khí bên trong, có một ít khí, đôi
khi chúng bay lên, đôi khi có thể được cầm
trong tay và khi có một lỗ thủng nó sẽ bị
xẹp lại. Nếu người ta bóp nó, nó sẽ
bị vỡ. Có đúng không?”. Hổ là “một con thú,
có vằn, giống một con mèo, có thể cào cấu,
ăn thịt người, hoang dă, sống trong rừng
thẳm, đôi khi ở trong các rừng nhỏ, hầu như
sống trong rừng thẳm. Có đúng không?”. Có lần
cậu ngưng lại và hỏi, một cách rất
rắc rối, là tại sao cái tên “Bệnh viện John
Hopkins” lại được in trên hồ sơ bệnh
án: “Tại sao họ phải làm như vậy?”. Bởi
v́ hồ sơ bệnh án được ghi lại bên
trong bệnh viện này, tại sao cần phải ghi cái tên
của bệnh viện trên mỗi phiếu ghi hồ sơ,
mặc dù người ghi hồ sơ biết rơ là ông ta
đang ngồi viết ở đâu cơ mà? Người
khám, một người mà cậu c̣n nhớ từ
lần khám trước đó 6 năm, chẳng là ǵ khác
ngoài một người ngồi đó để trả
lời những câu hỏi đầy vẻ ám ảnh
của cậu về bóng tối và ánh sáng.
Lần khám này kết thúc sự tiếp xúc
giữa Alfred và Khoa chúng tôi. Người mẹ bắt
đầu đưa cậu đi “du lịch” một ṿng
qua các trường học và bệnh viện, mà chẳng
thông báo ǵ cho các nơi này biết về những lần
khám trước, rồi sau một thời gian bà lại
dẫn đứa trẻ đi tiếp nơi khác mà không
cho biết bước kế tiếp bà dự định
sẽ làm ǵ. Chúng tôi biết được cậu đă
vào học trường V.V. Anderson ở thành phố
Strasburg-on-Hudson, N.Y. (1948-1950); trường Taylor Manor ở thành
phố Ellicot, Md. (tháng 7 đến tháng 10/1954); và Khoa Tâm
– Thần kinh Bệnh viện Philadelphia (3/ 3 đến
20/4/1955). Trong khoảng thời gian giữa hai nơi
cuối, có lúc cậu được cho sử dụng
thuốc Thorazine; rồi vào học tại một “trường
dành cho trẻ em bị tổn thương năo” do chính
mẹ cậu thành lập vào tháng 10/ 1954.
Alfred nay 38 tuổi. Anh ta vẫn c̣n ở
“trường học” của người mẹ. Tại
hai bệnh viện Sheppard-Pratt và Philadelphia, anh ta rất thích
các dụng cụ dùng trong lao động liệu pháp (Occupational therapy) và đă sử dụng chúng rất
tốt. Khi điều này làm cho người mẹ chú ư
đến, bà lại quyết định đưa Alfred
đi khỏi những nơi này.
Ca
thứ 9
Charles N. được mẹ đưa
đến vào ngày 2/ 2/ 1943, với lời khai: “Điều
làm tôi khổ sở nhất là tôi không thể nào đến
gần con tôi được”.
Chào đời ngày 9/ 8/ 1938. Là đứa
con được mong muốn. Biết ngồi lúc 6 tháng; và
lúc 14 tháng th́ “một hôm, cháu đứng dậy và
đi được”. Khi c̣n ở tuổi nhũ nhi,
cậu bé rất “chậm chạp và lạnh lùng”.
Cậu nằm trong nôi như thể đang bị thôi miên.
Bác sĩ cho dùng trích tinh tuyến giáp trạng nhưng không
có tác dụng ǵ.
Cậu là đứa đầu tiên trong ba
đứa con. Ông N., tốt nghiệp trung học, là
một thương gia buôn áo quần, được mô
tả là một người “tự thân thành đạt,
nhẹ nhàng và trầm tĩnh”; họ hàng bà con của
ông là những người “b́nh thường, đơn
giản”. Bà N., người “rất b́nh thản thư
thái”, có một lư lịch thành công trong kinh doanh, đang
điều hành pḥng bán vé của một nhà hát. Người
mẹ “năng động và mạnh mẽ” này c̣n làm
một số công việc viết lách và sáng tác. Bà N. có
một người anh, một bác sĩ tâm thần, người
rất có biệt tài về âm nhạc, và một người
chị được xem như một “Nữ tướng
của gia đ́nh” (Nguyên văn: “The Amazon of the family”. Amazon là
tên con sông lớn nhất ở Nam Mỹ, nằm trong
một khu vực rừng già hoang sơ, nguyên thủy.
Từ “Amazon” c̣n được người Mỹ dùng
với nghĩa “nữ tướng”, “nữ lực sĩ”
- N.D).
Người mẹ bắt đầu câu
chuyện của bà như sau: “Tôi đang cố gắng
không để cho những kiến thức chuyên môn chi
phối sự nhận định của ḿnh, những
kiến thức hiện đang can thiệp vào cách suy nghĩ
của tôi”. Về việc này, bà đă thành công. Sau
đây là tóm tắt lời tŕnh bày của bà: “Sự thích
thú âm nhạc của cháu đă khuyến khích tôi ghi âm
lại những bản nhạc. Khi được 1
tuổi rưỡi, cháu đă có thể phân biệt
được các bản nhạc giao hưởng. Cháu
nhận biết được tác giả là ai ngay khi nghe
qua phần đầu của bản tấu nhạc. Cháu có
thể nói ‘Beethoven’. Cùng lứa tuổi ấy, cháu
bắt đầu xoay tṛn những món đồ chơi và
những nắp chai, nắp b́nh và ngồi làm vậy hàng
giờ liền. Cháu xem những vật xoay tṛn, rồi
nhảy lên nhảy xuống với vẻ xuất thần.
Hiện cháu thích dùng gương hứng ánh sáng rồi
bắt chụp lấy cái bóng của ánh sáng phản
chiếu. Khi cháu thích một thứ ǵ đó, ông sẽ không
thể thay đổi được thứ đó đâu…
Điều gây ấn tượng nhất là cháu rất xa
cách và khó đến gần. Cháu sống trong một
thế giới riêng không ai đến được. Quan
hệ với con người chẳng có nghĩa lư ǵ
cả. Cháu đă trải qua một giai đoạn hay trích
dẫn lời người khác; chẳng bao giờ tự ḿnh
đ̣i hỏi điều ǵ. Lời nói của cháu hoàn toàn
là bản sao của những ǵ mà người khác nói
với cháu. Cháu thường tự nói về ḿnh ở ngôi
thứ hai, và hiện nay thỉnh thoảng cháu lại dùng
ngôi thứ ba… Cháu rất phá phách; đồ đạc
trong pḥng cháu thường bị phá hỏng. Cháu có
thể bẻ đôi một cây bút ch́ màu thành hai khúc
rồi nói: ‘Mày có một cây bút ch́ đẹp màu đỏ
tía, giờ th́ là hai cây bút. Coi mày đă làm ǵ ḱa’… Cháu
bị ám ảnh bởi phân, thường cất giấu nó
ở đâu đó, ví dụ như trong ngăn kéo tủ
chẳng hạn, cháu trêu chọc tôi nếu như tôi bước
vào pḥng: ‘Mày làm dơ quần rồi, không được
bút ch́ màu đâu!’… Do vậy mà cháu vẫn chưa
tập đi vệ sinh được. Cháu chẳng tiêu
bậy trong trường mẫu giáo, nhưng luôn luôn làm
vậy khi ở nhà. Tương tự, việc đi
tiểu cũng vậy. Cháu rất thích tiểu bậy,
hứng thú nhảy lên nhảy xuống và nói: ‘Nh́n xem cái
vũng nước bự của nó ḱa’ “.
Charles là đứa bé trai phát triển
tốt, trông có vẻ thông minh và có thể chất
tốt. Khi đến pḥng khám, cậu chẳng chú ư đến
những người có mặt ở đó. Không nh́n ai
cả, cậu nói: “Cho cây viết ch́”, lấy một
mẫu giấy trên bàn và viết ra một nét ǵ đó
giống như số 2 (tấm lịch lớn để trên
bàn lúc đó có một số 2 rất lớn, hôm đó là
ngày 2 tháng 2). Cậu mang theo ḿnh một bản sao của
tờ tạp chí Reader’s Digest và ngạc nhiên khi trông
thấy bức tranh một em bé. Cậu nói: “Coi ḱa em bé
ngộ quá” lập lại câu này vô số lần.
Thỉnh thoảng nói thêm: “Nó ngộ quá, dễ thương
quá”. Khi tờ tạp chí bị lấy khỏi tay,
cậu nắm giữ cánh tay đó lại mà không nh́n
mắt người đă lấy tờ tạp chí. Khi
bị người khám lấy kim châm vào người,
cậu hỏi: “Cái ǵ đây?” và tự trả lời
“Đó là cây kim”. Cậu nh́n cây kim với vẻ e
ngại, sợ bị chích thêm, nhưng không hề tỏ
vẻ liên hệ chuyện bị kim chích với người
cầm kim. Khi tờ tạp chí được đặt
trên sàn nhà và có người đè chân trên đó,
cậu cố nhấc cái chân ra như thể cái chân là
một vật gây rối và là một vật riêng biệt
mà chẳng hề quan tâm xem cái chân thuộc về ai
cả.
Khi đứng trước bảng xếp h́nh
Seguin, cậu rất thích thú gọi tên các h́nh trước
khi đặt chúng vào đúng những lỗ tương
ứng. Cậu thường xoay tṛn các khối h́nh,
hứng thú nhảy lên nhảy xuống khi những h́nh này
c̣n xoay. Cậu biết gọi tên như “h́nh bát giác”,
“h́nh thoi”, “h́nh chữ nhật”, nhưng dù vậy
vẫn cứ hỏi “Cái ǵ đây?”.
Cậu không đáp ứng khi được
gọi tên và không nh́n mặt mẹ khi bà nói chuyện
với cậu. Khi những h́nh khối bị lấy đi,
cậu la hét, giẫm chân và khóc: “Tôi đưa nó cho ông!”
(nghĩa là “Ông đưa nó cho tôi”).
Charles được đưa vào trường
Devereux ngày 10/ 2/ 1943. Đầu năm 1944, cậu rời trường
này, sau đó là 3 tháng (tháng 3 đến tháng 6) ở
Bệnh viện Bellevue; ngày 22/ 6/ 1944 được
đưa đến Bệnh viện Bang New Jersey ở
Marlboro; ngày 1/ 11/ 1946 đưa vào Trung tâm Trị liệu
Trẻ em Arthur Brisbane; ngày 1/ 2/ 1951 đến Bệnh
viện Khu vực Atlantic; ngày 14/ 10/ 1955 đến Bệnh
viện tiểu bang tại Ancora. Cậu vẫn c̣n ở
đó, nay 32 tuổi. Điều này có nghĩa là cậu
đă là bệnh nhân thường trú của bệnh
viện cấp tiểu bang kể từ lúc mới
được 5 tuổi 10 tháng. Những câu hỏi
của Khoa chúng tôi, nếu có được chút đáp
ứng, đều cho thấy t́nh trạng chung thật
tồi tệ và sự thoái triển diễn ra liên
tục. Một thông báo ngày 23/ 12/ 1970 có ghi: “Bệnh nhân
này rất khó lường trước được hành
vi. Anh ta có một vốn từ rất ít và hầu như
dành hết thời gian để hát một ḿnh. Anh ta
cần được giám sát chặt chẽ và có nhu
cầu nằm viện vô thời hạn”.
Ca
thứ 10
John F. khám lần đầu tại Khoa ngày
13/ 2/ 1940, vào lúc được 28 tháng tuổi.
Người cha nói: “Điều quan
trọng làm tôi lo lắng là cháu rất khó nuôi ăn.
Đây là vấn đề chủ yếu, ngoài ra việc
thứ hai là cháu bị chậm phát triển. Trong những
ngày đầu đời, việc bú mẹ không được
thuận lợi. Sau 15 ngày, cháu được chuyển
từ bú mẹ sang bú b́nh. Việc cố cho cháu nuốt
trôi thức ăn là cả một câu chuyện dài. Chúng tôi
phải cố gắng làm rơ mọi chuyện là do đâu.
Cháu cũng chậm trưởng thành. Lúc 20 tháng tuổi,
cháu mới bắt đầu đi. Bú tay và nghiến răng
khá thường xuyên, trăn trở nhiều trước
khi ngủ. Nếu chúng tôi không đáp ứng điều
cháu muốn, cháu sẽ la hét và khóc lóc”.
John sinh ngày 19/ 9/ 1937. Thường hay vào
viện v́ khó khăn trong việc nuôi ăn. Thóp trước
không đóng kín măi cho đến 2 tuổi rưỡi. Thường
xuyên bị cảm cúm và viêm tai giữa tái đi tái
lại, đến mức cần phải rạch màng nhĩ
ở cả hai tai.
John là con duy nhất cho đến tháng 2/
1943. Người cha, một bác sĩ tâm thần, là
một người “rất trầm lặng, b́nh tĩnh,
khí chất ổn định, là nhân tố ḥa giải
trong gia đ́nh”. Người mẹ, tốt nghiệp trung
học, làm thư kư trong một pḥng xét nghiệm bệnh
lư trước khi lập gia đ́nh; bà ta “nh́n mọi
thứ như là những mẫu bệnh phẩm; trong
suốt thời gian mang thai, bà luôn lo sợ ḿnh sẽ không
c̣n sống được sau khi sinh”.
John được cả cha và mẹ
đưa đến pḥng khám. Cậu thường xuyên
đi đi lại lại trong pḥng không mục đích.
Ngoại trừ khi tự động viết hí hoáy,
cậu chẳng bao giờ mang hai đồ vật lại
với nhau cùng lúc. Cậu không đáp ứng với
cả những yêu cầu đơn giản nhất.
Gần 4 tuổi, cậu bắt đầu
tạo được một khả năng tiếp xúc t́nh
cảm hạn chế. Một khi mối quan hệ
được thiết lập, nó phải được
tiếp tục chính xác theo cùng một kiểu cách.
Cậu đặt những câu đúng văn phạm nhưng
dùng đại từ ngôi thứ hai để chỉ
bản thân. Ngôn ngữ chủ yếu là sự lập
lại những ǵ cậu được nghe nói, không
hề thay đổi các đại từ xưng hô. Có tính
ám ảnh rơ nét. Thông lệ hằng ngày phải được
tuân thủ nhiêm ngặt; bất kỳ sự thay đổi
nào cũng đều sẽ dẫn đến những cơn
lo hăi bộc phát. Cậu có một trí nhớ thuộc ḷng
rất tốt và có thể học thuộc nhiều bài
cầu nguyện, bản nhạc thiếu nhi và bài hát; người
mẹ đă làm rất nhiều việc nhồi nhét này và
rất hănh diện về những “thành quả” ấy:
“Cháu có thể kể tên các đĩa nhạc bằng cách
nhận ra màu sắc của chúng; nếu xác định
được mặt đĩa bên này, cháu có thể
nhớ ra được mặt bên kia có cái ǵ”.
Lúc 4 tuổi rưỡi, cậu bắt
đầu sử dụng đầy đủ đại
từ xưng hô. Cậu muốn bảo đảm là
mọi sự vật trong môi trường xung quanh phải
được giữ nguyên trạng không thay đổi
bằng cách thường xuyên đóng chặt các cửa
ra vào và cửa sổ lại. Khi mẹ cậu mở
cửa, cậu giận dữ đến đóng cửa
lại, và khi bị can thiệp lần nữa, cậu
sẽ tuyệt vọng ̣a khóc, biểu lộ một
sự hụt hẫng cay đắng.
Cậu rất khó chịu khi nh́n thấy
một món đồ bị vỡ hoặc không toàn
vẹn. Có lần cậu chú ư đến hai con búp bê mà
trước đó cậu không hề để tâm đến.
Cậu phát hiện ra một trong hai con búp bê bị
mất chiếc mũ và trở nên rất kích động,
đi đi lại lại trong pḥng để t́m chiếc
mũ búp bê. Khi chiếc mũ được t́m thấy
trong một pḥng khác, th́ ngay lập tức cậu
chẳng c̣n để ư ǵ đến hai con búp bê nữa.
Lúc 5 tuổi rưỡi, cậu dùng tốt
các đại từ xưng hô. Bắt đầu tự
ăn lấy dễ dàng. Cậu nh́n thấy trong pḥng khám
có tấm h́nh chụp một nhóm người và hỏi
cha: “Khi nào họ ra khỏi tấm h́nh rồi đến
đây?”. Cậu rất băn khoăn về việc này.
Người cha nói điều ǵ đó về các bức h́nh
mà họ treo trên tường ở nhà. Cậu liền
sửa sai cha: “Chúng ta để h́nh ở gần tường”
(Chữ trên đối với cậu có nghĩa là “phía
trên” hoặc “trên đỉnh, trên cùng”). Người
cha huưt sáo một giai điệu, cậu
liền nhận ra ngay đó là “Bản
concerto viết cho violon của Mendelssohn”. Mặc dù khi nói
về đồ vật cậu có thể nói vật đó
là lớn hay đẹp, nhưng cậu không có khả năng
so sánh, ví dụ như đường kẽ nào lớn hơn
hoặc gương mặt nào đẹp hơn.
Tháng 12/ 1942 và tháng 1/ 1943, John bị hai đợt
động kinh trội ở bên phải, với cặp
mắt bị lệch sang phải và liệt thoáng qua cánh
tay phải. Khám thần kinh không thấy bất thường
ǵ. Hai đáy mắt b́nh thường. Điện năo
đồ cho thấy “những rối loạn cục
bộ ở thùy chẩm trái”.
Sau khi học ở một trường
mẫu giáo tư thục, John được đưa vào
trường Devereux (1945-1949), kế đến là trường
Woods, rồi Cơ sở chăm sóc trẻ em Children’s House
(tháng 6/ 1950), và theo học trường cấp thành
phố và khu vực ở thủ đô Washington. Một yêu
cầu về John đă được gửi từ
Bệnh viện Georgetown năm 1956.
BS. Hilde Bruch, người khám cho John vào năm
1953, đă ghi chú về “những biểu lộ cảm xúc
rất hứng khởi thiếu hẳn chiều sâu và
sự linh hoạt, và tắc ngúm ngay khi người khác rút
lại sự quan tâm”.
John chết đột ngột vào năm
1966, lúc 29 tuổi.
Ca
thứ 11
Elain C. được cha mẹ đưa
đến ngày 12/ 4/ 1939, lúc được 7 tuổi, v́ lư
do “phát triển không b́nh thường”. “Cháu không
biết thích nghi. Cháu bị mất hẳn những ư
niệm trừu tượng. Cháu không hiểu được
tṛ chơi của những trẻ khác, không thích thú
những câu chuyện người ta đọc cho cháu nghe,
hay đi lang thang một ḿnh, đặc biệt là thích
mọi loại súc vật, nhất là hay bắt chước
chúng đi bằng bốn chân và làm những tiếng kêu
lạ lùng”.
Elain được sinh ra ngày 3/ 2/ 1932. Cô bé
có vẻ khỏe mạnh, ăn tốt, đứng lúc 7 tháng
tuổi và đi khi chưa đầy 1 tuổi. Có thể
nói được 4 từ vào cuối năm đầu tiên
nhưng chẳng tiến bộ ǵ thêm về lời nói
trong 4 năm sau đó. Nghi ngờ bị điếc nhưng
đă loại trừ chẩn đoán này. V́ bị sốt
lúc 13 tháng tuổi, các khó khăn ngày càng tăng của cô
được lư giải như là một rối loạn
hành vi sau viêm năo. Những người khác th́ kết
tội người mẹ v́ không chăm sóc đầy
đủ cho con. Một chẩn đoán khác được
đặt ra là cô bị đần độn. Trong
thời gian 18 tháng, cô được cho dùng trích tinh
tuyến yên trước và tuyến giáp trạng.
“Một số bác sĩ bảo rằng cháu là một
đứa trẻ b́nh thường và rồi cháu sẽ phát
triển tốt thôi”.
Năm 2 tuổi, cô được gửi
đến một nhà trẻ, ở đó “cháu độc
lập chơi theo cách của ḿnh, không làm những ǵ người
khác làm. Ví dụ cháu uống nước và ăn cây
cối, trong khi bọn trẻ đang được
dạy cách chơi hoa”. Cô bé sớm thích thú với các
bức h́nh thú vật. Mặc dù nói chung là thường
không ngồi yên, nhưng cô lại có thể ngồi
tập trung hàng giờ để xem những bức h́nh như
thế.
Bắt đầu nói lúc 5 tuổi, cô đặt
đượcnhững câu hoàn chỉnh, dù đơn
giản, những “câu nói có tính chất máy móc”, đặc
biệt là biết gọi tên và “xếp loại” các thú
vật. Không sử dụng đúng đại từ xưng
hô, nhưng biết dùng danh từ số nhiều và chia
động từ đúng th́ (Những vấn đề rất thông
dụng trong tiếng Anh - N.D.). “Cháu không biết cách nói
phủ định nhưng có thể hiểu nghĩa khi người
khác dùng cách đó để nói với cháu… Cháu có
thể đếm số theo kiểu thuộc ḷng. Có
thể sắp xếp bàn ăn cho một số lượng
người nếu được cho biết tên của
những người dự, nhưng khi bảo hăy xếp
một ‘bàn ăn cho 3 người’, th́ cháu không làm
được. Nếu yêu cầu mang đến một
đồ vật đặc biệt đang để
tại một chỗ nhất định, cháu sẽ không
mang nó đến nếu nó đă được để
ở một nơi nào khác, trừ khi cháu vẫn c̣n nh́n
thấy được vật đó. Cháu rất sợ máy
hút bụi, đến mức sợ đến gần
cả chiếc tủ đặt máy hút bên trong, và khi máy
được sử dụng, cháu sẽ bỏ chạy vào
nhà xe lấy tay bịt hai tai lại”.
Elain là đứa con đầu trong hai đứa
con. Người cha nghiên cứu về luật và nghệ
thuật tự do ở ba trường đại học
(gồm cả Đại học Sorbonne), một nhân viên
viết bảng quảng cáo, “một trong số những
người ốm yếu kinh niên, mà năng lượng
đă được sử dụng hết”. Người
mẹ, một người “biết tự kềm chế,
trầm tĩnh và duy lư”, làm công việc biên tập cho
một tờ tạp chí trước khi lập gia đ́nh.
Elain có sức khỏe thể chất
tốt. Điện năo đồ b́nh thường. Khi
được khám vào tháng 4/1939, cô bé có thể bắt
tay bác sĩ theo yêu cầu mà không nh́n vào mặt ông, sau
đó chạy đến cửa sổ nh́n ra ngoài. Cô
tự động chú ư đến lời mời ngồi
xuống. Cô đáp lại các câu hỏi – sau khi người
hỏi lập lại nhiều lần – bằng cách nhái
lại cả câu hỏi, hoặc nếu câu quá dài th́
chỉ nhái lại đoạn cuối câu. Biểu hiện
của cô rất trống vắng hờ hững, mặc dù
không kém vẻ thông minh. Không dùng những cử điệu
để giao tiếp. Có một lúc, không thay đổi
diện mạo, cô th́nh ĺnh nói: “Cá ơi, đừng khóc”.
Cô được đưa vào Cơ sở Nghiên cứu Trẻ em Maryland, và ở đó 3 tuần. Cô nhanh chóng học biết tên tất cả những đứa trẻ ở đó, biết được màu mắt của chúng, giườ