www.tamlytrilieu.com
Đọc Web giùm
bạn
The Tao of Direction
TƯ TƯỞNG LĂO GIÁO VÀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT TRONG TÂM
LƯ TRỊ LIỆU
Jay
Reeve
(www.psychotherapy.net)
Hầu hết công việc
mà tôi (tác giả Jay Reeve) làm ở bệnh viện là cung
cấp chức năng giám sát về tâm lư trị
liệu. Những người được giám sát là
một tập thể gồm nhiều thành phần bao
gồm các thực tập sinh (chuẩn bị cho học
vị tiến sĩ) về tâm lư lâm sàng, các bác sĩ
nội trú và nghiên cứu sinh chuyên khoa tâm thần và các
nhân viên khác có văn bằng tốt nghiệp cấp
cử nhân. Một cách tự nhiên, phong cách thực
hiện việc giám sát của tôi thay đổi tùy theo tŕnh
độ đào tạo của những nhân viên này. Các
nghiên cứu sinh chuyên khoa tâm thần có tŕnh độ,
những người vừa hoàn tất chương tŕnh
đào tạo nội trú và đang theo đuổi chương
tŕnh đào tạo hậu tiến sĩ (post-doctoral) đôi
khi hơi lo lắng về môn tâm lư trị liệu ở
những chuyện như: Kế tiếp phải nói ǵ? Làm
ǵ nếu như bệnh nhân “nổi dóa” đối
với họ, vân vân và vân vân. Trái ngược lại, cũng
có những chuyên viên về môi trường trị
liệu (milieu therapists), dù không trải qua bất kỳ
một đào tạo đại học nào cả, nhưng
lại có thể thực hiện những can thiệp
trị liệu một cách đáng ngạc nhiên với
sự sáng tạo và sâu sắc của riêng họ. Không có
cách nào có thể giúp ta làm rơ được việc
một người sẽ trở thành một nhà trị
liệu như thế nào nếu chỉ dựa trên học
vị và chương tŕnh đào tạo mà họ đă
nhận được – một sự thật trái ngược
với trực giác đă được phản ánh trong các
nghiên cứu cho thấy rằng ít có mối tương
quan nào giữa việc đào tạo nhà trị liệu
(therapist training) với hiệu năng làm việc của nhà
trị liệu (therapist efficacy). Việc khó có thể tiên
đoán được một sinh viên sẽ trở thành
một nhà trị liệu như thế nào đă là
một phần của những điều thú vị liên
quan đến công việc của tôi – công việc
của một chuyên viên giám sát lâm sàng.
Tuy nhiên, những sinh viên mà
tôi thực hiện giám sát có thể được chia thành
hai nhóm với rất ít sự khác biệt liên quan đến
việc đào tạo và tŕnh độ chuyên môn, nhưng
lại có sự khác biệt về nhu cầu và mức
độ thoải mái của họ đối với công
việc giám sát, cũng như sự khác biệt về cách
cấu trúc và tiến tŕnh thực hiện giám sát. Sự
khác biệt ấy cũng thể hiện sự khác nhau
về phong cách làm việc giữa các trường phái tâm
lư trị liệu (vd. trường phái tâm động
học và CBT) cũng như sự khác nhau giữa các lĩnh
vực chuyên môn khác nhau (vd. giữa ngành tâm thần
học và ngành công tác xă hội). Mặc dù có những khác
biệt được phân định theo các yếu
tố văn hóa như trên, những nhà trị liệu
từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau vẫn có
thể được sắp xếp vào các những phân
khúc trong một hoạt phổ về cấu trúc –
tiến tŕnh (structure-process spectrum).
Một trong số những
ví dụ cho những khác biệt này được rút ra
từ một khóa huấn luyện về kỹ năng khám
hỏi tâm thần mà tôi cùng đảm trách với
một bác sĩ tâm thần chuyên về huấn luyện.
Một số sinh viên đă phải trải qua một
thời gian khó khăn khi họ phải điều
chỉnh kỹ thuật khám hỏi và chẩn đoán
của họ sao cho phù hợp với mức độ phát
triển của các thân chủ của họ. Nói cách khác,
bạn thực sự không thể thực hiện một
cuộc khám hỏi t́nh trạng tâm thần “đúng tiêu
chuẩn” với một đứa trẻ 6 tuổi và
từ đó mong đợi thu thập được
nhiều dữ liệu. Mặt khác, trong khi một buổi
chơi trị liệu với một đứa trẻ có
thể cung cấp một số lượng thông tin
rất nhiều, mục đích đánh giá đứa
trẻ sẽ không thực hiện được nếu nó
không được định hướng bởi một
kế hoạch đánh giá rơ ràng và toàn diện (xem xét các
tương tác xă hội, đánh giá xem đứa trẻ
có đang phản ứng với các kích thích từ
nội tâm hay không, sử dụng các trắc nghiệm theo
thông lệ...). Trong khóa huấn luyện, nhằm dạy
cho sinh viên phương pháp tốt nhất để đánh
giá trẻ em, tôi và đồng nghiệp của tôi đă
phải cân nhắc những ǵ mà các sinh viên cần có
để có thể thực hiện cách thức tiếp
cận tốt nhất cho từng thân chủ. Đối
với một số sinh viên, họ cần phải rời
bỏ sự bám víu vào cái “lịch sử bệnh lư
hiện tại và khám trạng thái tâm thần”, để
có thể thực sự lắng nghe đứa trẻ và
“bắt mạch” được ḍng chảy của
những tâm trạng và các tương tác. Đối
với một số sinh viên khác, họ cần được
hướng dẫn và có những công cụ rơ ràng để
có thể nắm bắt được ư nghĩa từ
sự tŕnh bày thường là rất hỗn độn
của đứa trẻ. Những nhu cầu này thực
sự là rất khác nhau, những cả hai đều là
trách nhiệm của chuyên viên giám sát nhằm hiểu
được và chú tâm đầy đủ vào từng
học viên.
Trong bài viết này, tôi
(Jay Reeve) sẽ vận dụng triết lư của Lăo Giáo
Trung Hoa như một phép ẩn dụ để có thể
hiểu được những khác biệt đă nêu
ở trên, đặc biệt là những khác biệt trong
các phương pháp giám sát lâm sàng. Theo triết lư
truyền thống Trung Quốc, sự quân b́nh trong vũ
trụ được thể hiện tiêu biểu trong
biểu tượng khá phổ biến của Lăo Giáo:
Một h́nh vẽ về hai lực tương phản Âm
(yin) và Dương (yang) với mặt căng tiếp xúc
giữa hai lực có tính cân xứng vừa bất
biến vừa linh hoạt. Trong một đoạn của
sách Đạo Đức Kinh (Tao Te Ching), có ghi: Mục
đích của bậc thức giả là “tập trung vào
Đạo”. Điều này cũng ngụ ư chỉ t́nh
trạng vô vi (wu wei) –
có nghĩa là “không làm ǵ cả” (doing nothing), mặc dù
thường được hiểu là một trạng thái
quân b́nh mà từ đó cho phép vận hành các nguyên lư
của Đạo. Trong giám sát tâm lư trị liệu, cũng
có một “mặt căng tiếp xúc” giữa hai yếu
tố: “cấu trúc” (structure) và “tiến tŕnh”
(process). Và vai tṛ của “thức giả” ở đây
chính là của chuyên viên giám sát.
Sự linh hoạt trong giám sát tâm lư
trị liệu
Giám sát là một sự tương
tác rất phức tạp và đa dạng, và điều
này có thể gây ngạc nhiên cho những người
học. Theo kinh nghiệm của tôi, các sinh viên thường
nghĩ rằng trong giám sát họ sẽ được hoàn
toàn “dẫn dắt” bởi những thiên khiếu
hoặc cá tính của chuyên viên giám sát. Họ thường
b́nh luận rằng “Ông (bà) ấy là một chuyên viên
giám sát tốt (hoặc tích cực, dở, xa cách, khắc
nghiệt...) như thể một chuyên viên giám sát chỉ
có khả năng thể hiện một h́nh thức giám sát.
Bất cứ ai đă
từng nhiều năm làm giám sát đều biết
rằng có rất nhiều trường phái tư tưởng
liên quan đến những h́nh thức giám sát tốt
nhất hiện nay. Những trường phái tư tưởng
này thường có liên quan đến những định
hướng lư thuyết của chuyên viên giám sát.
Những khác biệt giữa các triết lư khác nhau cũng
như những khác biệt bên trong từng loại
triết lư đều có thể tạo nên một
“sức căng động” (dynamic tension) trong công
việc giám sát. Sức căng này thường được
thể hiện qua mức độ thoải mái của
học viên (supervisee) và chuyên viên giám sát (supervisor) đối
với các kỹ thuật giám sát khác nhau trong một
hoạt phổ (spectrum) đi từ mức độ “được
chỉ bảo và hướng dẫn chặt chẽ”
(highly didactic and directional) cho đến mức độ “đi
sâu khám phá và quan hệ” (highly exploratory and relational). Hai
cực của hoạt phổ này chính là hai h́nh thức
“giám sát âm” và “giám sát dương” (yin and yang
supervision).
Giám sát Dương – Giám sát dựa
trên kỹ thuật (technique-based supervision)
Ở một cực bên này
của hoạt phổ là cực có tính chất “tuyệt
đối thiên về cấu trúc” (absolute structure). Chúng
ta gọi đây là cực “Dương” trong kỹ
thuật giám sát. Theo phương thức “giám sát Dương”,
chuyên viên giám sát và các học viên tiến hành việc giám
sát như là một công việc có tính hướng
dẫn về mặt kỹ thuật, qua đó chuyên viên giám
sát hướng dẫn cho các học viên những kỹ
thuật của tâm lư trị liệu. Giám sát theo phương
thức này thường có tính nổi trội là “hướng
dẫn, chỉ bảo”, bao gồm việc hướng
dẫn cách sử dụng những liệu pháp, các kỹ
thuật chuyên biệt, những quan điểm lư
thuyết, chỉ định các bài đọc thêm, và bàn
đến những ǵ nên nói, hoặc không nên nói trong lúc
trị liệu. Mục đích là hướng dẫn người
học viên những cách thức chuyên biệt để
thực hành tâm lư trị liệu, c̣n đối với
học viên là để cho họ chứng tỏ được
sự thành thạo ngày càng tăng của ḿnh theo đánh
giá của chuyên viên giám sát.
Theo phương thức giám
sát Dương, sự thành công của học viên
được đánh giá dựa trên mức độ mà
họ tuân thủ theo các hướng dẫn của chuyên
viên giám sát. Trong t́nh huống xấu nhất, thể
thức này có thể dẫn đến một kiểu giám
sát quá nghiêm trang và khô cứng, khiến cho học viên
cảm thấy như thể những ư kiến riêng
của họ, nhân cách của họ và kỹ thuật
của họ chẳng có chút giá trị ǵ; tuy nhiên đôi
khi nó cũng mang đến sự tiện ích cho học viên.
Tôi nhớ lại có những lúc ḿnh chẳng muốn ǵ
ngoài việc chờ nghe chuyên viên giám sát của tôi nói
“chính xác” những điều mà tôi phải làm. Nói
chung, cũng có những lúc tôi cảm thấy không an tâm,
thấy ḿnh bị mất vị thế nhà trị
liệu, hoặc cảm thấy nguy hiểm khi rơi vào
một t́nh huống nhập nhằng, nhạy cảm khi
đứng trước một thân chủ. Những
học viên thường khao khát có được sự hướng
dẫn khi họ bị lâm vào những t́nh huống gây
khủng hoảng hoặc khi họ bị lẫn lộn cái
ranh giới giữa ḿnh với thân chủ. Bất cứ
khi nào một học viên cảm thấy lo sợ khi vướng
vào một t́nh thế trị liệu có tính mơ hồ
th́ khi ấy việc đưa ra một hướng
dẫn cụ thể, rơ ràng có lẽ sẽ là một
“bến bờ an toàn để tránh trú băo”.
Dĩ nhiên, học viên
đôi lúc cũng “cần” phải cảm thấy ḿnh
bị lấn ép bởi những t́nh huống mơ hồ
như vậy để phát triển nên tính dẻo dai và
sức chịu đựng mà họ cần có để có
thể thực hành công việc trị liệu. Tuy nhiên,
một t́nh trạng quẫn bách kéo dài cũng khó có
thể dẫn đến sự tăng trưởng. Đối
với những nhà trị liệu mới vào nghề, nhà
trị liệu hay lo lắng và những nhà trị liệu
đang trong khủng hoảng... liều thuốc tốt
nhất chính là phương thức giám sát Dương.
Giám sát Âm – Giám sát dựa trên
tiến tŕnh (Process-based Supervision)
Ở cực bên kia của
hoạt phổ về các phương thức giám sát chính
là cái mà chúng tôi gọi là Giám sát Âm (yin supervision). Trong
phương thức giám sát Âm, chuyên viên giám sát
đưa người học viên vào việc xem xét cái
tiến tŕnh thực hiện tâm lư trị liệu.
Việc giám sát theo loại này có tính không hướng
dẫn (non-directive): học viên được khuyến khích
thể hiện những cảm xúc cũng như những
liên tưởng của ḿnh về các chất liệu lâm
sàng có được từ thân chủ. Việc này cũng
có thể bao gồm cả những chú giải về cái
tiến tŕnh đang song song diễn ra trong mối quan
hệ giám sát, cũng như việc khám phá tâm trạng và
các phản ứng cảm xúc của người học viên
cả trong t́nh huống trị liệu lẫn trong buổi
giám sát. Mục đích của giám sát theo phương
thức này là khám phá, càng sâu càng tốt, những
trải nghiệm có được từ việc thực
hành tâm lư trị liệu, phát biểu ra thành lời
những xung đột hoặc những nỗi lo nằm
trong vô thức đă làm ngăn trở sự phát
triển của người học viên.
Trong phương thức này,
sự thành công của học viên được đánh
giá dựa trên mức độ mà họ thể hiện
phong cách trị liệu của chính ḿnh. Ở t́nh
huống xấu nhất, việc giám sát dựa trên
tiến tŕnh có thể dẫn đến một t́nh
thế mơ hồ tương tự như khi đứng
trước một giao lộ giữa một liệu pháp tâm
lư tồi và một t́nh huống thông thường ngoài xă
hội. Các học viên thường than phiền về
điều mơ hồ này, họ thường bảo
rằng chuyên viên giám sát của họ hay “trả
lời một câu hỏi bằng một câu hỏi”.
Mặc dù điều này nghe có vẻ như cách nói cường
điệu hoặc nói đùa, nhưng đó vẫn là
một nhận định rất thường thấy
về giám sát Âm.
Trái ngược với tính
chất cứng nhắc của giám sát Dương, giám sát
Âm có nguy cơ dẫn đến một cảm giác ở
người học viên là phần nào đó họ đă
không học được ǵ. Tuy nhiên, nếu được
làm tốt, phương thức chú tâm dựa trên tiến
tŕnh có thể dẫn đến việc làm cho các
trải nghiệm trong giám sát trở nên phong phú và có tính
tưởng thưởng: đó là lúc những học viên
bắt đầu trải nghiệm được bản
chất tỏa lan của các tiến tŕnh mà từ đó
nó gây âm vang vào trong những lúc họ thực hành
trị liệu, tham gia giám sát hoặc ngay cả trong các tương
tác khác. Một trong những kỷ niệm đáng giá
nhất của tôi trong quá tŕnh được giám sát
nội trú về tâm lư học đó là lúc mà chuyên viên
giám sát của tôi về trị liệu trẻ em đă
dạy cho tôi cách thức cứ trở lại và trở
lại nhiều lần với những tiến tŕnh chơi
với các thân chủ nhỏ tuổi của tôi, và
việc này dẫn tôi đến việc nhận ra
những thành công trong cách can thiệp trị liệu
của tôi. Trong giám sát Âm, tiến tŕnh tự nó làm cho nó
có thể được nhận biết (the process makes
itself known).
Quân b́nh giữa giám sát Âm và Dương
Những chuyên viên giám sát
có khuynh hướng t́m ra phong cách giám sát của riêng ḿnh
dựa trên những ǵ họ được đào
tạo cũng như dựa trên nhân cách của chính
họ. Những chuyên viên có xu hướng thiên về hành
vi và giải quyết vấn đề thường có xu hướng
giám sát thiên về cấu trúc nhiều hơn; trong khi
đó các chuyên viên có xu hướng tâm động
học hoặc hiện sinh thường thiên về xu hướng
giám sát dựa trên tiến tŕnh. Tuy nhiên, việc này cũng
có hàng ngh́n điều ngoại lệ: Robert Langs được
biết như một nhà trị liệu hành vi và những
nhà thực hành trường phái Zen CBT như Jeremy Safran cũng
đă nhẹ nhàng ḥa nhập vào xu hướng dựa trên
tiến tŕnh. Sự quân b́nh giữa hai phong cách “cấu
trúc” và “tiến tŕnh” có nhiều mức độ
rất khác nhau giữa các trường phái trị
liệu cũng như ngay trong từng trường phái
trị liệu. Một vấn đề khác cũng
cần nói đến đó là hiệu quả của
sự tương tác giữa chuyên viên giám sát và các
học viên có ảnh hưởng lên trên sự quân b́nh này.
Tôi cũng từng có lúc bị mắc mứu vào một t́nh
thế trong đó các học viên của tôi – do tính cách
của họ, do sự huấn luyện và các giám sát trước
đó của họ - đă khăng khăng chấp
giữ lấy một phương thức giám sát, hoặc
là Âm hoặc là Dương chứ không chấp nhận
sự quân b́nh giữa hai phương thức.
Khi tôi thực hiện
việc giám sát các học viên có định hướng
theo tiến tŕnh (process-oriented) và được đào
tạo về tâm động học, yêu cầu thông thường
nhất mà họ hay đặt ra là sự chỉ dẫn cơ
bản và chuyên biệt về những “thủ
thuật” (craft) trong tâm lư trị liệu. Họ thường
phàn nàn rằng việc huấn luyện của họ thường
dài ḍng về lư thuyết nhưng lại thiếu
những lời khuyên có tính thực hành về những ǵ
cần được nói ra với các thân chủ. Học
viên hay nói về những nỗi lo âu và những tiến
tŕnh của chính họ liên quan đến công việc
thực hành trị liệu, nhưng lại có ít ư tưởng
về cách đương đầu với những phiên
trị liệu đang diễn ra theo thời gian, thực
hiện một cuộc khám hỏi t́nh trạng tâm
thần hoặc thách thức một phụ huynh trong phiên
trị liệu gia đ́nh. Trong những t́nh huống này, tôi
thường có xu hướng áp dụng kiểu giám sát
theo “cấu trúc” rất cụ thể và chi tiết.
Trái lại, những
học viên được đào tạo theo những chương
tŕnh dựa trên thực nghiệm (experimentally-based programs) ví
dụ như CBT hoặc các liệu pháp sử dụng
kỹ thuật khác, dường như rất tự tin khi
vận dụng các kỹ thuật nhưng lại khó có
khả năng nói ra thành lời những cảm nhận
của họ về cách thức mà việc trị liệu
đang tiến triển như thế nào. Những học
viên này thường bị “tê liệt” do những
nỗi lo xuất hiện khi họ đối mặt
với những t́nh huống không áp dụng được
những kỹ thuật hoặc khi họ không hiểu
được những cảm xúc của chính ḿnh về
những thân chủ mà họ trị liệu. Với
những học viên này, tôi thường dùng phương
pháp khám phá trong khi thực hiện việc giám sát.
Học viên được khuyến khích nói và khám phá
những trải nghiệm của chính họ khi họ
thực hành tâm lư trị liệu, và việc này rất
khớp với phong cách giám sát Âm.
Lắng nghe những “khoảng
trống” trong kỹ năng của người học viên
Trong giám sát, cũng như
trong tâm lư trị liệu, thách thức được
đặt ra là phải cho phép người học bước
ra khỏi tính chất cố chấp kiên định vào xu
hướng “cấu trúc” hoặc “tiến tŕnh”
dể hướng đến một sự chuyển
tiếp nhẹ nhàng theo các mức độ khác nhau bên
trong hoạt phổ các phương thức giám sát, tùy
theo điều ǵ là cần thiết nhất ở từng
thời điểm. Để các học viên học
được cách thức chuyển tiếp nhẹ nhàng này,
chính những chuyên viên giám sát cũng cần phải
thực hiện một cuộc hành tŕnh tương tự
hướng đến khả năng linh hoạt hơn
của chính ḿnh. Dĩ nhiên chúng ta không thể cùng lúc làm
tốt tất cả mọi phong cách và mọi phương
thức, nhưng chỉ cần hơi “thoáng” ra một
chút cũng có lợi cho tất cả mọi người,
kể cả chuyên viên giám sát lẫn các học viên.
Đối với tôi, việc này bao gồm sự sẵn
ḷng thỏa măn những nhu cầu của người
học viên, lắng nghe một cách đầy đủ
những ǵ mà học viên của tôi đang cần, và sau
cùng, điều có lẽ là then chốt để có
thể hiểu và áp dụng Lăo giáo vào trong giám sát đó
là: nhu cầu được quân b́nh.
Trong triết lư Lăo Giáo,
sự thật không nằm trong cực này hoặc cực
kia, trong Âm hoặc trong Dương. Thay v́ thế, công
việc của bậc thức giả là cung cấp cái ǵ
đó bị thiếu để mang lại sự quân b́nh.
Để trở thành những chuyên viên giám sát giỏi,
công việc của chúng tôi là lắng nghe những
“khoảng trống” trong phần kỹ năng của các
học viên, tính khô khan của những người quá chú
trọng đến “cấu trúc”, tính mơ hồ
của những người “quá nhạy cảm”, và cung
cấp cho học viên những ǵ họ “thiếu”, không
phải v́ học viên “cần” những thứ ấy
để họ trở nên giống như chúng tôi mà là
để cố gắng giữ lấy sự quân b́nh
cần thiết cho sự tăng trưởng mà tự nó
đă có khả năng tự tiến triển và tự có
giá trị.
Khi nghĩ
rằng ḿnh biết được câu trả lời, con
người trở nên khó hướng dẫn.
Khi
họ biết rằng họ không biết, con người
lại có thể t́m thấy lối đi cho chính ḿnh.