www.tamlytrilieu.com

 

LiỆu pháp Gestalt

BS. NGUYỄN MINH TIẾN

Khi Đảng Quốc xă lên cầm quyền ở Đức vào năm 1933, một cặp vợ chồng người Đức (cả hai đều là những nhà phân tâm) đă rời quê nhà sang Hà Lan, rồi sau đó đi cư sang Nam Phi để thành lập ở đó một Viện nghiên cứu về Phân tâm học. Và đến năm 1942, họ cho xuất bản một quyển sách mà sau đó được biết với tên gọi là Liệu pháp Gestalt.

Frederick Saloman (Fritz) Perls xuất thân là một nhà phân tâm, và đă chịu ảnh hưởng của nhiều nhà phân tâm danh tiếng cùng thời, trong đó có Theodore Ferenczi, Karen Horney, Otto Rank, Wilheim Reich và Harry Stack Sullivan. Trong buổi đầu hành nghề tại Đức, Perls đă rất say mê với những tư tưởng tiến bộ như trào lưu Bauhaus trong nghệ thuật và kiến trúc, triết lư hiện sinh, sân khấu và vũ thuật. Perls cũng chịu ảnh hưởng bởi Tâm lư học Gestalt – một trường phái tâm lư học tại Đức vào khoảng đầu thế kỷ 20, do May Wertheimer, Wolfgang Kohler và Kurt Koffka sáng lập. Những tác giả này chủ trương đi ngược lại vói xu hướng chung của tâm lư học vào thời đó là t́m hiểu các trải nghiệm của con người bằng cách chia cắt chúng thành ra những thành phần riêng lẻ. Tâm lư học Gestalt chủ trương rằng những thành phần cấu thành các trải nghiệm của con người không thể được khảo sát một cách riêng lẻ, mà phải được xem xét đưới dạng những “tổng thể”. Họ sử dụng chữ gestalt, một từ trong tiếng Đức, với ư nghĩa là “một tổng thể hợp nhất với các tính chất không đơn thuần được tạo nên bởi tổng số các thành phần và các tương tác giữa các thành phần ấy”. Perls cũng chịu ảnh hưởng bởi Học thuyết về Sinh thể (organismic theory) của Kurt Golstein và lư thuyết về Trường (field theory) của Kurt Levin.

Mặc dù Fritz Perls được xem như người sáng lập trường phái trị liệu Gestalt, nhưng vợ ông, Laura Perls, cũng là người đồng sáng lập và cùng ông viết tác phẩm Ego, Hunger and Aggression (Cái Tôi, Sự Khao khát và Hung tính). Lư thuyết Trường-Tiến tŕnh (field-process) của Tâm lư học Gestalt và Chủ nghĩa nhân văn – hiện sinh của Buber và Tillich là trọng tâm trong lư thuyết của trường phái trị liệu Gestalt và điều này là do công đóng góp và ảnh hưởng của Laura Perls.

Khi nhận thấy Nam Phi bắt đầu chuyển sang chế độ độc tài và phân biệt chủng tộc, hai vợ chồng rời nước này sang Hoa Kỳ vào năm 1946, thành lập tại New York một nhóm nghiên cứu về tâm lư trị liệu dựa trên những nền tảng học thuyết mới của Perls và chịu ảnh hưởng bởi các phương pháp phân tích của Wilheim Reich, Harry Stack Sullivan và Karen Horney.

Những nhà sáng lập trường phái trị liệu Gestalt cùng với các đồ đệ của Sullivan, Horney và Reich đă chống lại khuynh hướng phân tâm học cổ điển của Freud. Vào thời đó, những nhà phân tâm được xem như những “tấm b́nh phong trống trơn” (blank screen); họ không thể hiện bất cứ điều ǵ mang tính cá nhân của ḿnh để cho những bệnh nhân có thể thực hiện việc phóng chiếu (projection) và tạo lập t́nh trạng “nhiễu tâm chuyển di” (transference neurosis). Cách làm này rất khác xa với những nhà phân tâm theo các xu hướng mới tiến bộ hơn ngày nay như xu hướng “quan hệ đối tượng” hoặc “tâm lư học bản ngă” (self psychology).

Những nhà trị liệu Gestalt xem những nhà trị liệu phân tâm chiếm giữ quá nhiều quyền lực so với bệnh nhân và đă không dành sự lưu tâm đầy đủ đến những ǵ thực sự đang diễn ra trong mối quan hệ giữa nhà trị liệu và thân chủ. Họ tin rằng trị liệu phân tâm không đủ hiệu quả trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng nơi thân chủ. Họ chủ trương thiết lập một hệ thống trị liệu hướng đến phát huy sự tăng trưởng thay v́ chỉ chú ư đến việc làm giảm thiểu trạng thái tâm bệnh, họ dựa vào những trải nghiệm thật sự nhiều hơn là chỉ dựa vào sự diễn giải những thực tại không thể trải nghiệm được; và họ dựa trên những mối quan hệ tiếp xúc chắc chắn chứ không phải chỉ tái diễn lại những trải nghiệm thông qua t́nh trạng “nhiễu tâm chuyển di”. Phương pháp được áp dụng ở đây gọi là “nhận biết (ngộ) thông qua tiếp xúc đối thoại” (awareness through dialogic contact).

Lư thuyết của Liệu pháp Gestalt, giống như trong Lư thuyết về Trường, chủ trương xem xét Trường (field) trong một tổng thể và nhấn mạnh đến “tiến tŕnh” (tức là quá tŕnh phát triển hoặc các hành động diễn tiến theo thời gian) hơn là chỉ quan tâm đến những trạng thái tĩnh tại.

Giống như một liệu pháp có khuynh hướng “hiện sinh” (experiential), liệu pháp Gestalt nhấn mạnh đến sự hiện hữu đúng như những ǵ con người có thể trải nghiệm được và không đặt nặng vào những cách thức lư giải trừu tượng. Nhà trị liệu Gestalt tin vào khả năng của con người trong việc tăng trưởng, tự điều chỉnh và tự b́nh phục thông qua việc tiếp xúc giữa người với người và khả năng nội thị (insight). Mặc dù có những giới hạn về mặt sinh học - di truyền, bản ngă của con người vẫn được xem như một tiến tŕnh có thể phát triển thông qua các tương tác xă hội chứ không phải do sự xung đột giữa những tác động dồn nén về mặt xă hội và những bản năng sinh học. Mối quan hệ trị liệu trong liệu pháp Gestalt là một sự tiếp xúc hay gắn kết rất chủ động và thực thụ giữa con người của nhà trị liệu và con người của thân chủ dựa trên khuôn mẫu đối thoại có tính hiện sinh, chứ không nhằm giữ một khoảng cách xa “trung tính” để thúc đẩy sự h́nh thành một nhiễu tâm chuyển di như trong liệu pháp phân tâm.

Và giống như một liệu pháp dựa trên cơ sở hiện tượng học (phenomenological therapy), liệu pháp Gestalt thay thế phương pháp liên tưởng tự do trong phân tâm học bằng phương pháp luận về một sự “tỉnh ngộ có trọng điểm” (focused awareness). Cách tiếp cận trên cơ sở hiện tượng học xem tất cả những ǵ có được từ sự trải nghiệm tức thời là những dữ liệu có tính chắc chắn, chứ không phải những dữ liệu rút ra từ quá khứ hoặc suy diễn theo lư thuyết. Phương pháp hiện tượng học cố gắng “làm sạch” sự nhận biết của cả nhà trị liệu lẫn thân chủ, theo cách thức giống như lau sạch bụi mờ trên một tấm gương. Việc hướng dẫn con người sử dụng các cảm nhận của chính ḿnh để đạt đến khả năng nội thị khiến cho quan điểm hiện sinh về tiềm năng và trách nhiệm cá nhân trở thành hiện thực.

Vói cách thức đó, con người có thể có được những công cụ để hiểu biết về chính họ cũng như về người khác. Họ học được cách nhận diện và chấp nhận những nhu cầu, sở thích, ham muốn, động cơ và các giá trị của chính ḿnh. Ngoài ra, bằng cách học được cách nhận biết các tiến tŕnh nhận biết của chính ḿnh, các thân chủ cũng sẽ học được cách điều ḥa chính bản thân ḿnh theo cách thức ít bóp méo ư thức của họ hơn.

Liệu pháp Gestalt là một phương pháp dựa trên hiện tượng học thực nghiệm. Thân chủ được hướng dẫn và khuyến khích thực hiện những hành vi mới với mục đích đạt đến sự hiểu biết bản thân tốt hơn. Bằng cách đề xuất những hành vi mới như những thực nghiệm hiện tượng học, nhà trị liệu có thể hướng dẫn thân chủ thay đổi hành vi thông qua sự nhận biết bản thân một cách tự nhiên chứ không thông qua những chương tŕnh chỉnh sửa hành vi như trong liệu pháp hành vi.

LƯ THUYẾT VỀ NHÂN CÁCH

Trường Sinh thể - Môi trường (organism-environment field)

Trường phái Gestalt xem xét con người và môi trường sống trong một tổng thể không tách biệt, dựa trên sự tương tác giữa con người và môi trường sống (organism-environment field). Một con người không thể được xem xét tách rời khỏi Trường mà người này sinh sống, đặc biệt là không thể xem xét người ấy tách rời khỏi các tương tác giữa người với người trong Trựng ấy; và ngược lại cũng không thể xem xét môi trường sống mà không thông qua nhăn quan của một con người. Thậm chí nhu cầu cần được cô độc của một con người cũng có thể được định nghĩa trong mối quan hệ với những người khác.

Trường được giới hạn bởi những đường biên giới. Đường biên giới tiếp xúc (contact boundary) có một chức năng kép: vừa giúp một con người có thể kết nối được với người khác, vừa giữ được sự tách biệt, độc lập của người ấy. Sự tách biệt tạo nên và bảo tồn tính độc lập của một con người, đồng thời bảo vệ người ấy tránh xa các tác nhân gây hại. Nhưng chỉ khi đường biên giới ấy cho phép sự trao đổi tích cực xảy ra bên trong Trường th́ mới có thể làm nên đời sống và sự tăng trưởng. Con người tăng trưởng khi họ tiếp xúc với những ǵ ban đầu là xa lạ, đặc biệt khi họ tiếp xúc và nhận biết về những người khác xung quanh. Các nhu cầu được giải quyết thông qua sự tiếp xúc.

Con người h́nh thành nên sự cảm nhận về cái “Tôi” của ḿnh bằng những quá tŕnh tiếp xúc theo kiểu “tôi-với-anh” (I-though) hoặc “tôi-và-nó” (I-it), chứ một người không thể nhận biết cái “Tôi” của ḿnh bằng cách xem xét một cái “Tôi” biệt lập. Bằng cách phân biệt giữa “ngă” (self) và “phi ngă” (not-self), thông qua sự vận hành các tiến tŕnh “làm cho giống” (identification) và “làm cho khác” (alienation), con người luôn luôn định hướng cho khoảng không gian sống của ḿnh và kiến tạo nên “một cảm nhận về con-người-mà-ḿnh-đang-là” (a sense of who they are).

“Tất cả những sự tiếp xúc đều là sự điều chỉnh đầy tính sáng tạo của sinh thể và môi trường sống” (F. Perls, 1952) (All contact is creative adjustment of the organism and environment). Tất cả các sinh thể đều sống trong môi trường của ḿnh và đều phải điều chỉnh tùy theo hoàn cảnh của Trường. Nhưng chỉ điều chỉnh thôi th́ chưa đủ. Con người cũng cần phải “định dạng” lại môi trường sao cho nó có thể đáp ứng được các nhu cầu và giá trị của ḿnh. Đây chính là khía cạnh “sáng tạo” đă được nêu ở trên.

Sự tiếp xúc có thể xảy ra mà con người có thể nhận biết được với nhiều mức độ khác nhau. Hầu hết các tương giao đều được thực hiện ở một mức độ rất quen thuộc khiến con người rất ít khi nhận biết được rằng tương giao ấy đang xảy ra. Chỉ khi t́nh huống sống có tính phức tạp, mới mẻ, khi có xung đột, hoặc khi các mô h́nh vận hành theo thói quen không có tác dụng th́ mới cần đến việc người ấy phải nhận biết được hoạt động tiếp xúc của ḿnh. Trong trường hợp người lành mạnh, khả năng nhận biết này có thể phát triển theo yêu cầu của t́nh huống sống.

“Sự tiếp xúc (contact) chỉ có thể xảy ra khi ít nhiều có được sự hỗ trợ (support) cho nó xảy ra... Sự hỗ trợ là bất cứ điều ǵ có tác dụng thúc đẩy sự đồng hóa (assimilation) và thống hợp (integration) các trải nghiệm trong một con người, trong một mối quan hệ hoặc trong một xă hội...” (Perls, 1992). Sự hỗ trợ có thể có được từ thể chất của chúng ta, từ ngôn ngữ, tập tục, khả năng học hỏi, trí tuệ, cũng như từ ḷng trắc ẩn của chúng ta. Sự đồng nhất hóa của một con người với những trải nghiệm của chính ḿnh có lẽ là khía cạnh quan trọng nhất của khả năng “tự hỗ trợ” (self-support) và là khía cạnh trung tâm trong học thuyết về sự thay đổi của liệu pháp Gestalt.

Một sự hỗ trợ đầy đủ là chức năng của toàn bộ Trường (field) và chức năng đó đ̣i hỏi phải có cả sự tự hỗ trợ của bản thân đương sự lẫn sự hỗ trợ từ môi trường. Khi một người cần có một môi trường an toàn để có thể nói ra được những cảm xúc đau khổ, người ấy ắt phải nhận ra được nhu cầu của ḿnh, rồi sẽ t́m kiếm một hoàn cảnh có tính an toàn để nhu cầu ấy có thể được giải bày với người khác và cho phép những sự tương tác trở nên có hiệu quả.

Một sự tiếp xúc tốt phải là sự lưu tâm đến những hoàn cảnh thực tại đang xảy ra. Sự định hướng cũng như hành động xảy ra ngay trong những t́nh huống thực tế ở hiện tại và chỉ có thể có được sự hỗ trợ ở “tại đây và ngay lúc này” (here and now). Khi một người nói về một chuyện xảy ra trong quá khứ th́ sự nhớ lại và những cảm xúc có được về chuyện ấy vẫn là những điều xảy ra trong hiện tại. Tương tự, khi nói về tương lai, những cảm xúc và dự đoán của chúng ta cũng diễn ra ngay trong hiện tại (Perls, 1992).

Khi một người liên hệ đến quá khứ (những niềm tin đă được nhập tâm từ xa xưa hoặc các sự việc chưa được hoàn tất) hoặc liên hệ đến tương lai (bi thảm hóa) mà không nhận ra ḿnh đang như thế, khả năng nhận biết và chức năng sống của người ấy có thể bị phương hại. Ví dụ, khả năng tiếp xúc của một con người có thể bị phương hại khi anh ta nhầm lẫn một người nào đó trong hiện tại với h́nh ảnh của một người khác mà anh ta biết trong quá khứ. Một khả năng tự hỗ trợ đă từng thành công trong việc hỗ trợ cho sự tăng trưởng trước đây th́ nay có thể trở nên có tác dụng hỗ trợ về mặt cấu trúc cho sự tŕ trệ.

Gestalt

Gestalt là một từ tiếng Đức có nghĩa là khuôn mẫu (pattern) hoặc h́nh thể, cấu trúc (configuration). Một gestalt được tạo nên bởi mối tương quan giữa Ảnh (figure) và Nền (ground). Mỗi Ảnh tượng trưng cho một trải nghiệm, nó được điều tiết tùy theo nhu cầu của đương sự đồng thời tùy theo nhu cầu và bản chất của t́nh huống mà người đó đang sống. Nền là toàn bộ bối cảnh bao gồm những yếu tố tương thích về mặt hiện tượng học mà từ đó xuất hiện nên Ảnh. Một cách lư tưởng th́ Ảnh vẫn sẽ hiện rơ nét chừng nào mà sự quan tâm về nó vẫn c̣n trội bật, và chỉ mờ dần đi sau đó khi sự quan tâm chuyển sang một Ảnh khác kế tiếp.

“Sự ư thức một cách tự nhiên về nhu cầu nào đang nổi trội và tổ chức được các chức năng của sự tiếp xúc chính là h́nh thức thể hiện về mặt tâm lư của khả năng tự-điều-ḥa-của-sinh-thể (organismic-self-regulation)” (Perls và cs., 1951). Việc tạo lập một gestalt là một tiến tŕnh liên tục trong đó điều được quan tâm đến nhiều nhất sẽ được nhận biết để có thể xử lư công khai, năng lượng tâm trí được đầu tư để làm rơ Ảnh (figure) và thực hiện những hành động để làm thỏa măn những nhu cầu được tượng trưng bởi h́nh ảnh đó. Khi sự đầu tư này thành công (thỏa măn được nhu cầu của đương sự vào lúc ấy), sự chú ư của đương sự vào Ảnh sẽ giảm đi và năng lượng tâm trí được sử dụng để đầu tư cho một ảnh khác. Khi sự đầu tư không thành công, gestalt vẫn c̣n trong trạng thái không hoàn tất và vẫn đ̣i hỏi sự chú tâm của đương sự.

Ví dụ, một đứa trẻ t́m kiếm sự yêu thương nhưng không có được sự yêu thương th́ sẽ trở nên hổ thẹn, oán hận hoặc cứ luôn khao khát chờ đợi. Gestalt chưa hoàn tất này có thể vẫn luôn vận hành ở nhiều tầng mức trong ư thức của đương sự. Khi không được bản thân nhận biết rơ, gestalt này vẫn trong trạng thái chưa hoàn tất và có thể ảnh hưởng đến ḷng tự tôn, lên bản sắc cá nhân và lên các mối quan hệ liên cá nhân của đương sự trong nhiều năm. Nếu chức năng của đường biên giới là có tính uyển chuyển và không có sự nhiễu loạn, th́ cá nhân đó vẫn có sự trao đổi và tăng trưởng. Nếu các đường biên giới quá cứng nhắc, một con người cũng sẽ trở nên cứng nhắc và kém linh hoạt, ví dụ như trường hợp những người có rối loạn nhân cách ám ảnh – cưỡng chế. Khi chức năng ở các đường biên giới có sự “ḍ rỉ”, đương sự sẽ mất đi sự rơ ràng về mặt bản sắc, rất hay giao động và cứ luôn phải điều chỉnh bản thân ḿnh theo người khác.

Ư nghĩa của một gestalt nằm trong mối liên hệ giữa trải nghiệm (ảnh) và bối cảnh (nền). Ư nghĩa luôn luôn có liên quan đến bối cảnh, cả về mặt tḥi gian, không gian, văn hóa va con người. Nếu không hiểu biết về bối cảnh (Nền) th́ một trải nghiệm (Ảnh) sẽ không có ư nghĩa ǵ cả. Nếu không có sự trải nghiệm, cái bối cảnh kia cũng trở nên không được nhận biết rơ ràng và cũng chẳng có ư nghĩa ǵ cả.

Trong thực hành trị liệu, sự nhận biết rơ một gestalt được gọi là khả năng “nội thị” (insight). “Nội thị là sự định khuôn cho trường nhận thức (perceptual field) theo một cách thức sao cho thực tại được hiển thị một cách rơ rệt; chính trong sự tạo lập một gestalt mà các yếu tố tương thích với cái toàn thể” (Heidbreder, 1993). Khái niệm nội thị trong liệu pháp gestalt chính là sự nhận biết rơ về cấu trúc của Trường Cá nhân – Môi trường bao gồm sự tiếp xúc với cái ngă trong toàn bộ Trường cuộc sống của một con người. Vào thời điểm một người cần đến khả năng nhận biết có tính nội thị (insightful awareness) mà khả năng ấy không phát triển được th́ chính đó là lúc có chỉ định tiến hành tâm lư trị liệu.

Sự đồng hóa và tạo lập cái Ngă

(Assimilation and Self Formation)

Từ khi sinh ra cho đến lúc ĺa đời, thông qua sự điều chỉnh một cách sáng tạo, con người đă phát triển nên một cảm nhận về cái Ngă (sense of self) nơi bản thân ḿnh. Ngay từ khi vừa mới chào đời, cấu trúc sinh học của sinh thể đă bắt đầu tương tác với những điều xa lạ từ môi trường xung quanh, và dần dần tạo lập nên bản ngă – một thực thể sinh học-xă hội-tâm lư-tinh thần. Con người thống hợp tất cả các trải nghiệm trong cuộc sống, liên tục tương tác với Trường Sinh thể - Môi trường trong hiện tại, liên tục điều chỉnh bản thân cho phù hợp với môi trường và điều chỉnh môi trường cho phù hợp với bản thân. Mỗi người vào một thời điểm khi tương tác với một sự vật trong môi trường cũng đều có được một cảm nhận về cái Ngă của ḿnh. Sự tương tác với một cái mới sẽ tạo nên một cảm nhận mới về cái Ngă.

Quá tŕnh “chuyển hóa về mặt tâm thần” (Mental metabolism) là một thuật ngữ có tính ẩn dụ được sử dụng trong liệu pháp Gestalt để mô tả các tiến tŕnh hoạt động của những đường biên giới qua đó con người vừa duy tŕ được bản thân ḿnh vừa có thể tăng trưởng. Con người trở nên nhận biết được các nhu cầu của ḿnh, hướng về môi trường để hiểu biết chắc chắn những nguồn lực nào có thể giúp thỏa măn những nhu cầu ấy, rồi chọn lựa để thu nhập vào và biến cái xa lạ kia trở thành một thành phần của cái Ngă. Đồng hóa (Assimilation) là tiến tŕnh thống hợp những cái mới lạ từ bên ngoài và biến nó trở thành một phần trong cái Ngă của một con người. Tiêu hóa thức ăn cũng là một sự đồng hóa dưới h́nh thức sinh học. Những ǵ bên ngoài được xem là không cần thiết hoặc có thể gây nguy hại th́ sẽ bị từ chối; chỉ những ǵ “có giá trị nuôi dưỡng” và được mong đợi mới có thể được dung nạp vào.

Cái được đồng hóa sẽ trở thành một phần của cái Ngă; cái được du nhập vào mà không thông qua tiến tŕnh đồng hóa th́ vẫn sẽ c̣n là một “dị vật” và quá tŕnh này được gọi là nhập tâm, hoặc nội phóng chiếu (introjection). Việc tự động không chấp nhận quan điểm của người khác thường xảy ra thông qua đối thoại hoặc đồng hóa. Việc tự động chấp nhận quan điểm của người khác mà không thông qua sự phân tích thường chỉ là sự “nhập tâm” nêu trên. Các ư tưởng du nhập vào bên trong tâm trí mà không thông qua sự xem xét (học tập, phân tích, suy nghĩ...) được gọi là những “sự vật hoặc đối tượng được nhập nội” (introjects). Các lời răn “Nên” hoặc “Không Nên” là những giáo điều không thông qua sự đồng hóa, được tiếp nhận từ khi c̣n nhỏ, và ăn sâu vào phần bản ngă của một con người. Những introject ấy sẽ làm hạn chế khả năng của con người trong việc cảm nhận rơ rệt về cái Ngă, cản trở sự rộng mở để tiếp nhận những trải nghiệm mới, loại bỏ khả năng sống ḥa hợp và sống động của một con người, làm cho người đó không sống hết khả năng của ḿnh.

Những người có nhân cách lành mạnh có khả năng nhận biết rơ bản ngă, ít xảy ra những xung đột trong nội tâm, có khả năng tự thân cảm nhận những tính chất, cảm xúc và nhu cầu của bản thân. Cấu trúc nhân cách cùng với cảm nhận về bản ngă tất cả đều được tạo lập nên thông qua mối quan hệ tương tác giữa con người với môi trường sống. Trẻ em khi được đối xử với sự thương yêu và tôn trọng sẽ phát triển nên một cảm nhận về ḷng tự tôn (sense of self-esteem). Trẻ em có thể trở nên những con người có khả năng và hữu ích nếu khi c̣n nhỏ trẻ được khuyến khích làm những hành vi thử nghiệm, ứng phó, được phép sai lầm, được tạo cơ hội để có những lúc phải thất vọng và hụt hẫng, được học cách tương tác với thế giới xung quanh và được hướng dẫn cách xử lư các t́nh huống bất trắc bằng những cách thức phù hợp với khả năng và mức độ phát triển của trẻ.

Trong quá tŕnh sống, có nhiều lúc con người rơi vào thế bế tắc (impasse). Đó là những lúc không có được sự hỗ trợ từ bên ngoài, và đương sự không biết được liệu ḿnh có thể tự lực để tồn tại được hay không nếu không có ai khác giúp đỡ. Lúc đó, đương sự có thể có một cảm nhận về t́nh huống vừa như một mối nguy, vừa như một cơ hội. Việc có ai đó đến cứu giúp sẽ khiến đương sự không nhận ra được là ḿnh yếu kém về khả năng tự lực (tự hỗ trợ: self-support). Nếu không có sự cứu giúp từ người khác, t́nh thế bế tắc khi ấy có thể trở thành một cơ hội để đương sự thực hiện một điều mới mẻ và quan sát được điều ǵ sẽ xảy ra. Đây là một thực nghiệm và bằng cách thực nghiệm mà con người mới có thể học tập và tăng trưởng được.

BỆNH LƯ VÀ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG

Con người học tập được từ sự trải nghiệm. Rối loạn chức năng xảy ra khi khả năng nhận biết không phát triển theo yêu cầu và những kiểu mẫu hành vi th́ lại hạn chế khả năng tăng trưởng, không cho phép cá nhân cảm thấy hài ḷng, hoặc lập đi lập lại t́nh trạng gây hủy hoại về mặt xă hội. Cơ chế nhận biết nguyên thủy không phát triển sẽ gây gián đoạn cho việc tạo lập sự lưu tâm đến một Ảnh (figure) khiến cho nó không trở thành chủ đề được ư thức nhận biết. Tiến tŕnh gián đoạn khả năng nhận biết tự nó cũng có thể được định vị trở thành một Ảnh và thông qua sự “nhận biết về khả năng nhận biết” mà tiến tŕnh học tập có thể được bảo tồn. Khi tiến tŕnh nhận biết không được bảo tồn, việc học tập sẽ không xảy ra và các hành vi lành mạnh không được h́nh thành; khi ấy việc trị liệu sẽ được chỉ định.

Các hành vi bị gián đoạn thường bắt đầu có từ tuổi thơ bé, khi mà đứa trẻ không được hỗ trợ đầy đủ hoặc khi mà đứa trẻ được bảo bọc quá mức, không có điều kiện để trải nghiệm và học tập được từ những hệ quả tự nhiên của những hành vi của chính ḿnh.

Sự gián đoạn xảy ra cả trên b́nh diện tâm trí lẫn b́nh diện cơ thể. Ví dụ khi một người trở nên sợ hăi hoặc ngượng ngùng, người ấy sẽ t́m cách ngăn trở khả năng nhận biết những cảm xúc này bằng cách mỉa mai, châm biếm. Anh ta nghĩ rằng ḿnh “đang đùa cợt”. Trên b́nh diện cơ thể, khả năng nhận biết cũng bị né tránh bằng cách làm gián đoạn những tiến tŕnh hỗ trợ cho sự linh hoạt về mặt cảm xúc. Ví dụ, một người khi cố gắng ngăn trở sự nhận biết về cảm xúc buồn bă hoặc muốn kiềm giữ cho không khóc có thể sẽ cắn chặt hàm răng hoặc nhắm nghiền mắt lại. Cơ chế của những hành vi né tránh ấy lại có thể làm phát sinh thêm các khó khăn mới, ví dụ nó sẽ gây nên chứng đau đầu do căng thẳng (tension headaches).

Khi trong Trường hiện tại xảy ra sự gián đoạn khả năng nhận biết th́ sự gián đoạn này thường có liên quan đến các “đối tượng được nội tâm hóa” (introjects), những kư ức và những “vụ việc chưa hoàn tất” (unfinished business) tức là những cảm xúc chưa được giải quyết hoặc những nhu cầu chưa được thỏa măn. Điều này cũng giải thích được phần lớn những hiện tượng chuyển di (transference). Ví dụ một nữ thân chủ có thể nhận thấy nhà trị liệu của cô là một người nhiệt t́nh và rộng lượng, nhưng cô có thể không tin ông ta bởi v́ trước đây người cha nghiện rượu của cô cũng thể hiện vẻ nhiệt t́nh và rộng lượng giống như vậy nhưng rồi có thể đột ngột công kích cô một cách vô cớ.

Rối loạn các đường biên giới

Khi chu tŕnh tạo lập một Ảnh bị gián đoạn hoặc bị bóp méo, khi đó sẽ có sự rối loạn trong khả năng nhận biết và rối loạn tại đường biên giới tiếp xúc giữa người ấy với phần c̣n lại của Trường. Một số người có thể làm gián đoạn chu tŕnh tạo lập một Ảnh bằng cách nhanh chóng chuyển sang chú tâm đến một Ảnh mới trước khi Ảnh cũ được đầu tư một cách đầy đủ. Ví dụ một cô gái nọ rất sôi nổi và thích gợi chuyện, gần như có mặt khắp nơi trong một gian pḥng nhưng lại không ở lại với ai đủ lâu để có thể có được một cảm nhận đầy đủ về bản ngă của cô cũng như để có thể có được một sự kết nối với người khác. Cô gái ấy là ví dụ minh họa cho một trường hợp thay đổi quá nhanh trong sự đầu tư vào các Ảnh (figure). Trong một ví dụ khác, một thanh niên lại thể hiện tính chất đầu tư quá lâu vào một Ảnh: anh ta thường kéo dài giai đoạn làm rơ một Ảnh khiến cho Ảnh vẫn tiếp tục được làm rơ đến từng chi tiết mà chẳng bao giờ chuyển sang một hành động nào cả. Mọi người đều nhận thấy anh ta như một người có tính ám ảnh, quá nguyên tắc và dễ bị lạc lối trong các tiểu tiết.

Tiếp xúc, Ḥa lẫn và Tách biệt (Contact, Confluence and Isolation)

Một sự tiếp xúc với Trường được xem là tốt nếu như các đường biên giới có đủ tính chất kép đă được bàn đến ở phần trên: vừa kết nối và vừa tách biệt. Khi một người bị mất đi cái cảm nhận về sự kết nối với thế giới xung quanh, người đó đang sống cô lập. Một người cô lập không có những tương tác tốt với xung quanh và cũng không tương tác tốt với chính họ. Trái lại, nếu mất đi cảm nhận về sự tách biệt th́ người đó đang ḥa lẫn ḿnh với người khác, phụ thuộc vào người khác.

Nhập tâm và phóng chiếu (introjection and projection)

Mặc dù quá tŕnh nhập tâm (introjecting) là có tính lành mạnh trong việc học tập những t́nh huống mới và nó rất cần thiết trong thời thơ ấu, nhưng những đối tượng được nhập tâm (introjects) nào c̣n nằm ngoài tầm nhận biết th́ lại là thành phần cốt yếu của cơ chế h́nh thành bệnh lư. Ví dụ, nếu một đứa trẻ nhập tâm ư tưởng rằng ‘‘Nếu không thể nói được điều ǵ hay ho th́ tốt nhất là nên im lặng’’ th́ điều này sẽ có ảnh hưởng đến tính quyết đoán của trẻ sau này khi cuộc sống cần đến khả năng ấy.

Phóng chiếu hay ngoại hiện th́ trái ngược với nhập nội. Trong khi nhập tâm là quy những ǵ của người khác vào trong cái ngă; th́ phóng chiếu là tiến tŕnh quy những ǵ của ḿnh cho người khác. Phóng chiếu ngăn trở một con người trải nghiệm được những nét tính cách của cái ngă bằng cách quy nó cho người khác. Có nhiều người đôi lúc tự ngăn trở việc nhận biết những cảm xúc ganh ghét của bản thân ḿnh bằng cách suy nghĩ (phóng chiếu) rằng những người khác đă thể hiện thái độ thù địch với ḿnh. Sự phóng chiếu có thể thay đổi theo nhiều mức độ khác nhau về tính chính xác, tuy nhiên nó luôn có chức năng làm trở ngại cho sự nhận biết bản thân.

Hồi hướng và Chuyển hướng (Retroflection and Deflection)

Hiện tượng hồi hướng và chuyển hướng có thể xảy ra về sau trong chu tŕnh nhận biết. Nếu trong quá tŕnh nhập tâm và phóng chiếu, sự nhận biết bị gián đoạn trước khi đương sự trải nghiệm được những cảm xúc và các xung năng như là của chính ḿnh, th́ trong hồi hướng và chuyển hướng, đương sự vẫn chấp nhận các xung năng là của chính ḿnh nhưng thay đổi chiều hướng hoặc mức độ tác động của nó. Việc này có thể cho phép đương sự chấp nhận những ước muốn của chính ḿnh và có thể điều chỉnh lại những đáp ứng sao cho thỏa măn những nhu cầu của hoàn cảnh sống.

Trong quá tŕnh hồi hướng, các xung năng và ước muốn được chuyển từ b́nh diện liên cá nhân (interpersonal) sang b́nh diện nội tâm (intrapsychic); nghĩa là một điều mà đương sự muốn ḿnh làm cho người khác hoặc muốn người khác làm cho ḿnh sẽ được chuyển hướng thành điều mà đương sự tự làm cho chính ḿnh. Ví dụ trường hợp một người đang giận dữ vẫn cố kiềm giữ t́nh huống ở mức an toàn để không có những hành động bột phát, hoặc trường hợp một người muốn có những cảm giác dễ chịu sẽ làm những động tác tự kích thích bản thân.

Chuyển hướng là quá tŕnh làm giảm đi tác động của sự tương tác hoặc theo hướng từ người khác đến bản thân hoặc theo hướng từ bản thân đến người khác. Mỉm cười để giảm nhẹ một thái độ chỉ trích hoặc giận dữ là một ví dụ. Phớt lờ hoặc xem nhẹ một sự giao tiếp là cách chuyển hướng đối với một t́nh huống giao tiếp đang xuất hiện. Chuyển hướng có thể là một khả năng quan trọng giúp bảo vệ cho cái ngă cũng như cho t́nh huống sống. Những người không chuyển hướng cho những thái độ gây hấn ra bên ngoài (outgoing aggression) có thể làm cuộc sống của những người khác thêm khó khăn; trong khi những người không chuyển hướng cho những thái độ gây hấn hướng vào bên trong (incoming aggression) có thể trở thành những người dễ bị tự ái.

Tiếp cận trị liệu các chứng lo âu theo kiểu gestalt

Với cơ sở triết lư được định hướng theo các tiến tŕnh của trường phái Gestalt, chứng lo âu được tiếp cận dựa trên tiến tŕnh hơn là dựa trên bối cảnh của lo âu. Lo âu được xem là trải nghiệm về một sự phấn khích bị gián đoạn hoặc không được hỗ trợ (khi cuộc sống phải bị đè nén chứ không được nâng đỡ). Khi lo âu, một người sẽ mất đi cảm giác ‘‘tập trung vào hiện tại’’ và sẽ có khuynh hướng ‘‘tương lai hóa’’ (futurizing) các sự việc, từ đó tạo nên những tiên đoán có tính tiêu cực, diễn giải sai lầm và h́nh thành những niềm tin phi lư. Khi lo âu, người ấy tập trung vào một cái ǵ đó không có ngay trong hiện tại, v́ thế anh ta sẽ không thể tập trung năng lượng đầy đủ để hỗ trợ cho việc thực hiện các hoạt động và hoàn tất được một gestalt (ảnh không liên quan đến nền, trải nghiệm không liên quan đến bối cảnh).

Sự bế tắc (impasse)

Khi những sự hỗ trợ thông thường bị mất đi mà những sự hỗ trợ mới chưa được khỏi động, người ta sẽ không biết ḿnh liệu có đủ sự hỗ trợ cần thiết để có thể tiếp tục tồn tại hay không. Sự bế tắc xảy ra khi h́nh ảnh về bản thân (self-image) trở nên cứng nhắc, sai lầm và không c̣n vai tṛ trong việc tạo dựng một cuộc sống an toàn nữa. Khi một người không c̣n giữ được h́nh ảnh bản thân ḿnh như trước đây lúc đó anh ta sẽ cảm thấy bế tắc.

Người bị bế tắc sẽ bị mắc mứu vào những t́nh thế mà anh ta xem là đáng sợ, không có khả năng quay lui và lo sợ ḿnh sẽ không thể sống nổi nếu tiếp tục đi tới. Họ bị tê liệt, với những năng lượng tâm trí bị phân chia, dằn xé và chống đối nhau, giống như một tài xế giữ một chân đạp ga chân kia đạp thắng vậy! T́nh trạng này thường được mô tả bằng những h́nh ảnh ẩn dụ như ‘‘trống vắng’’, ‘‘đen tối’’, ‘‘đứng bên bờ vực’’, ‘‘lọt vào xoáy nước’’ hoặc ‘‘bị nhấn ch́m’’.

Người đang trải qua sự bế tắc sẽ t́m kiếm sự hỗ trợ để có thể tồn tại. Sự tồn tại đích thực là sự tồn tại với sự nhận thức chính xác, có khả năng đặt cái ngă thực sự của ḿnh vào trong thế gian vào nh́n thấy người khác một cách đúng đắn. Nó được thể hiện thông qua sự sống động, những gestalt hoàn tất, hiểu biết và làm rơ những điều ǵ là quan trọng. Khi sự hỗ trợ không đầy đủ, khả năng hoàn tất những việc này sẽ thất bại.

Định đề nghịch lư về sự thay đổi

Có một nghịch lư là khi một người càng cố gắng để trở nên cái mà anh ta không thực sự là th́ anh ta càng giữ nguyên trạng như cũ không thay đổi. Sự tăng trưởng thực sự không xảy ra khi một người ghét bỏ hoặc từ chối cái ngă của chính ḿnh, mà nó chỉ xảy ra khi người đó nhận biết rơ cái thực tại mà họ đang là. Càng nhận biết rơ bản thân, nhận biết rơ hoàn cảnh và tính cách của ḿnh th́ một người mới có thể đi trên con đường tăng trưởng. Khi sống với toàn bộ bản ngă thật của ḿnh, một người mới có thể thực hiện được những hành vi mới và học tập được từ những tiến tŕnh.

Con người thường hạn chế khả năng tăng trưởng của ḿnh bằng cách đồng hóa ḿnh với những cái ngă ‘‘giả’’ (hoặc quá tự cao hoặc quá xấu hổ về h́nh ảnh bản thân). Cố gắng giữ lấy h́nh ảnh cái ngă giả tạo này sẽ ngăn trở người ấy tăng trưởng và không ở trong ‘‘cái toàn thể’’. Sự nhận biết cách thức tồn tại của chính ḿnh sẽ bao gồm cả việc thấy được bản thân ḿnh là một con người đáng được yêu thương và trân trọng ngay cả khi vẫn c̣n nhiều thiếu sót và vẫn phải học hỏi thêm nhiều điều. Những người biết tôn trọng bản thân có thể nhận ra được những hành vi nào là không hiệu quả hoặc gây tổn thương cho người khác mà vẫn không mất đi cái cảm nhận về giá trị của bản thân ḿnh.

Trái lại, cảm xúc đi kèm theo sự cảm nhận rằng ḿnh ‘‘không đạt’’ hoặc ‘‘không được’’ chính là sự hổ thẹn. Trước khi giúp một người có khuynh hướng hổ thẹn nhận biết được một cách đầy đủ về bản thân, điều cần thiết là phải thực hiện một số công việc đặc biệt để tác động vào tiến tŕnh hổ thẹn của họ (Yontef, 1993).

THỰC HÀNH

Cấu trúc cơ bản của liệu pháp

Liệu pháp Gestalt có một khung lư thuyết có tính tổng hợp, được thiết kế để có thể dung nạp những ư tưởng, quan sát và kỹ thuật từ nhiều nguồn khác nhau và hợp thành một phương pháp với đặc điểm có cùng một triết lư chung nhưng đa dạng về mặt kỹ thuật. Nhà trị liệu Gestalt được yêu cầu phải hiểu biết về thân chủ và mối quan hệ, nắm vững phương pháp, có thể sáng tạo hoặc vay mượn bất cứ kỹ thuật trị liệu nào có thể giúp họ cảm nhận được những ǵ cần được khám phá và cho phép thân chủ tiếp tục đi tới trên con đường tăng trưởng.

Từ giữa thập niên 1960 đến giữa thập niên 1970, một số các kỹ thuật kịch theo kiểu Gestalt đă được công bố rộng răi. Và trong thập niên cuối thế kỷ 20, liệu pháp Gestalt tiếp tục là loại liệu pháp ‘‘đa kỹ thuật’’ (multi-technical), sử dụng những ư tưởng, dữ liệu và các kỹ thuật can thiệp từ nhiều nguồn khác nhau. Gần đây hơn, việc thực hành liệu pháp Gestalt chuyển hướng sang các kỹ thuật liên quan nhiều hơn đến những trải nghiệm của thân chủ, ví dụ kỹ thuật phản ánh có tính thấu cảm (empathetic reflection) và chú trọng hơn đến việc tăng cường mối quan hệ trị liệu. Việc này làm cho diện mạo của liệu pháp Gestalt khác biệt đáng kể so với tính chất hoa mỹ và kịch tính của hơn 20 năm về trước.

Xu hướng có tính chiết trung này làm cho liệu pháp Gestalt không c̣n là một phương pháp thuần nhất nữa mà trở thành một nhóm các liệu pháp có cùng chung triết lư và phương pháp luận, nhưng lại áp dụng vô số những chiều kích kỹ thuật khác nhau, sự lựa chọn khuôn mẫu, mức độ và thể loại cấu trúc trị liệu khác nhau trong hầu hết các chủ đề lâm sàng. Do liệu pháp Gestalt đặt mục tiêu vượt ra bên ngoài việc giảm nhẹ triệu chứng, và hướng đến việc tăng trưởng, thậm chí phát triển về mặt tinh thần, cho nên thời gian trị liệu có thể là vô hạn định. Tuy nhiên, phương thức trị liệu ngắn hạn là một trong số những h́nh thức trị liệu tiêu chuẩn của trường phái này; có thể ở dạng ‘‘giải quyết khủng hoảng’’ (crisis model) hoặc ‘‘định hướng nội thị’’ (insight model). Thông thường, một liệu tŕnh Gestalt không định trước thời điểm kết thúc (open-ended) có thể tự động kết thúc sau vài phiên trị liệu. Mặc dù tần số trung b́nh thường là mỗi tuần một lần, nhưng con số này cũng có thể thay đổi từ vài lần một tuần cho đến mỗi tuần (hoặc thưa hơn) một lần.

Hầu hết thân chủ bắt đầu bằng trị liệu cá nhân hoặc từng cặp (vợ chồng, t́nh nhân), c̣n trị liệu nhóm th́ có thể thực hiện sau đó tùy trường hợp. Cá nhân: 45-50 phút mỗi phiên; cặp: 45-120 phút; nhóm: 90-120 phút. Workshop: 6-12 giờ mỗi ngày. Việc trị liệu có thể được phối hợp nhiều thể thức trên mỗi thân chủ: vừa trị liệu cá nhân, vừa trị liệu cặp, nhóm hoặc workshop. Nhà trị liệu và thân chủ thường ngồi đối diện và không ngăn cách nhau bởi những chiếc bàn.

Các phiên trị liệu được cấu trúc bởi sự tương tác giữa thân chủ và nhà trị liệu, và cả hai cùng tham gia vào việc thiết kế cấu trúc này. Khi thân chủ nghiêm túc xem xét những nguyện vọng, nhu cầu và những khả năng của ḿnh rồi sau đó tŕnh bày những điều này với nhà trị liệu, anh ta sẽ tham gia xác định cấu trúc của phiên trị liệu. Một số thân chủ cấu trúc các phiên trị liệu bằng cách kể câu chuyện của ḿnh và định rơ những nhu cầu trọng tâm của ḿnh. Nhà trị liệu giúp thân chủ làm rơ những nguyện vọng và nhu cầu của họ bằng cách chia sẻ các quan sát, phản ánh có tính thấu cảm, cung cấp thông tin, đề xuất những thực nghiệm (theo kiểu hiện tượng học) để làm rơ những ước muốn của thân chủ. Cấu trúc của việc trị liệu phải do sự tương tác giữa thân chủ và nhà trị liệu, bất kể mối quan hệ trị liệu đă được thiết lập vững chắc hay chưa.

Mục đích và các chiến lược

Mặc dù những nhà trị liệu Gestalt thường khá năng động, họ vẫn không thiết kế trước một tŕnh tự thay đổi hành vi và định trước mục đích sau cùng của cuộc trị liệu. Công việc của nhà trị liệu thường tập trung vào việc khám phá bản thân của thân chủ hơn là trực tiếp làm thay đổi hành vi hoặc diễn giải những vấn đề trong vô thức. Liệu pháp gestalt mang lại sự nhận biết khi thân chủ bị bế tắc, mang lại sự nhận biết những tiến tŕnh nhận biết, cung cấp sự hỗ trợ và hướng dẫn những phương thức mới trong việc đương đầu với stress.

Nét chủ yếu trong triết lư của liệu pháp Gestalt là sự tôn trọng những thực tại muôn h́nh, nhấn mạnh vào giá trị tích cực của sự khác biệt giữa những con người khác nhau (về các giá trị, sở nguyện và niềm tin...). Điều này cũng đúng khi xem xét sự khác biệt giữa thân chủ và nhà trị liệu. Những nhà trị liệu Gestalt thường thể hiện tính cách riêng tư của bản thân họ (thường hay bộc lộ bản thân), v́ thế thân chủ cũng được dịp tiếp xúc hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp với những cảm xúc, ư nghĩ, kỹ năng, các giá trị và hành vi khác với ḿnh. Thân chủ không được khuyến khích phải đồng nhất hóa với cách sống của nhà trị liệu, mà thay vào đó họ phải t́m kiếm cách thức riêng độc đáo của họ. Những khác biệt giữa nhà trị liệu và thân chủ trở thành trọng tâm trong đối thoại cũng như trong các thực nghiệm hiện tượng học.

Chính khi tiếp xúc với triết lư của liệu pháp Gestalt mà thân chủ mới học được cách thử nghiệm những ǵ là phù hợp và không phù hợp với họ thông qua sự nhận biết bản thân của chính họ. Điều đặc biệt quan trọng là một liệu pháp với một nhà trị liệu năng động cùng một phương pháp mạnh mẽ sẽ có thể trân trọng và bảo bọc cho khả năng đề kháng của thân chủ đối với quá tŕnh nhập tâm (introjection) và trách nhiệm của nhà trị liệu là phải thận trọng trong trường hợp thân chủ vô t́nh điều ứng bản thân dưới ảnh hưởng của nhà trị liệu.

Mục đích trị liệu là giúp thân chủ đạt được sự tự chủ và tăng trưởng thông qua tự nhận biết về bản thân. Nhà trị liệu có vai tṛ hướng dẫn sự nhận biết này bằng cách hiện diện một cách tích cực với sự quan tâm, nhiệt t́nh, chân thực, sống động và đầy sáng tạo. Nhà trị liệu Gestalt chia sẻ với thân chủ những ǵ họ quan sát được và phản hồi lại những cảm nhận mà họ có được từ thân chủ. Nhà trị liệu Gestalt hiện diện như một con người thực sự, v́ thế sự nhận biết bản thân có thể xảy ra trong bối cảnh có sự tương tác thực sự giữa người với người.

Các thực nghiệm hiện tượng học trong liệu pháp Gestalt được hướng dẫn ngay trong các phiên trị liệu cũng như được yêu cầu thực hiện giữa các phiên trị liệu như những ‘‘bài tập về nhà’’ (home assignments). Một nhà trị liệu giỏi sẽ phải có kiến thức tổng quan về liệu pháp và đưa ra những đề xuất để hướng dẫn thân chủ khám phá bản thân họ cả trong các phiên trị liệu và thời gian giữa các phiên trị liệu.

Các mục đích trị liệu và tiến tŕnh thiết lập các mục đích này có sự thay đổi tùy theo giai đoạn trị liệu, vấn đề của thân chủ, cấu trúc nhân cách của thân chủ và môi trường làm việc của nhà trị liệu. Mặc dù vậy, khuôn khổ trị liệu căn bản của trường phái Gestalt về cách khám phá và đối thoại theo kiểu hiện tượng học (phenomenological exploration and dialogue) đă vận hành ngay từ thời điểm bắt đầu tiếp xúc giữa nhà trị liệu và thân chủ. Chính sự nhận biết và công việc tiếp xúc với thân chủ sẽ định h́nh cho tiến tŕnh xây dựng và làm rơ mục đích trị liệu. Việc thiết lập mục đích trị liệu là một việc được thực hiện sớm trong đó khả năng tự lực (self-support) của thân chủ sẽ được tăng cường bởi hai khía cạnh chính của liệu pháp Gestalt sau đây: (1) Việc giải thích theo phương pháp hiện tượng học các kiểu mẫu ư thức và hành vi của thân chủ ; (2) Việc phát triển mối quan hệ trị liệu giữa thân chủ và nhà trị liệu.

Ví dụ, một thân chủ vào phiên trị liệu đầu tiên thể hiện thái độ không biết khởi đầu thế nào, chờ đợi nhà trị liệu cho ra những ư kiến dẫn dắt và không thể có trả lời khi được hỏi ‘‘Bạn muốn đạt được ǵ từ việc trị liệu?’’. Có điều ǵ đó từ thân chủ đă lay động nhà trị liệu và người này nói ‘‘Tôi muốn giúp bạn. Bạn cần tôi giúp bạn điều ǵ?’’. Người thân chủ ấy sau đó có thể đáp ứng lại bằng cách thức giao tiếp riêng tư công khai hơn.

Mức độ tự lực của thân chủ là yếu tố căn bản ban đầu phải xem xét để chọn lựa cách thức can thiệp. Những thực nghiệm và các hoạt động trị liệu khác được áp dụng với mức độ khó tăng dần và được diễn tập theo một tŕnh tự nhằm xây dựng những kỹ năng ngay từ khi bắt đầu trị liệu để khả năng tự lực của thân chủ được tăng cường hơn và cũng không tạo nên gánh nặng quá lớn cho giai đoạn sau đó. Ví dụ, những thân chủ đă từng bị ngược đăi từ thuở nhỏ có thể tham gia trị liệu tốt hơn thông qua việc thể hiện sự giận dữ vào ban đầu khi họ học cách nhận diện và diễn đạt những cảm xúc của họ một cách an toàn, rồi sau đó học cách cố gắng tự trấn tĩnh và thư giăn khi cần thiết, kế đó phát triển một cảm nhận về ḷng tin và sự an toàn khi làm việc với nhà trị liệu. Giai đoạn tiếp xúc lần đầu với một thân chủ mới đưọc xem là một bước có tính tế nhị nhằm thiết lập nên một ‘‘liên minh trị liệu’’ (therapeutic alliance). Tiếp theo sau đó là một loạt các thảo luận về các chủ đề liên quan đến cuộc sống của thân chủ mà thân chủ không nhận biết được ḿnh thực sự mong muốn ǵ. Trọng tâm của việc trị liệu là làm sao để tăng cường khả năng của thân chủ trong việc nhận biết là họ muốn ǵ chứ không chú tâm nhiều đến nội dung của ‘‘những câu chuyện xảy ra trong tuần’’. Theo thời gian, thân chủ sẽ nhận ra được lâu nay anh ta đă làm như thế nào khiến gián đoạn khả năng nhận biết ḿnh muốn ǵ; thân chủ cũng bắt đầu thích thú với cảm giác rằng ḿnh đă biết được ḿnh muốn ǵ. Thân chủ cũng bắt đầu thể hiện nhiều sáng kiến hơn trong các phiên trị liệu và nhận thấy mối quan hệ với nhà trị liệu trở nên quan trọng hơn đối với ḿnh. Vào lúc đó, thân chủ đă có được sự tự lực đầy đủ để nhà trị liệu có thể thực hiện những quan sát và đưa ra những diễn giải nhằm bộc lộ những cảm xúc sâu đậm và giải quyết những vai tṛ của thân chủ trong các tương tác không lành mạnh.

Khi thực hành đúng đắn, nhà trị liệu Gestalt sẽ có những hướng dẫn theo tŕnh tự sao cho những cuộc khám phá sâu sắc hơn, nhiều nguy cơ hơn, đau đớn hơn sẽ không vượt quá khả năng tự lực của thân chủ. Nếu thân chủ không được hướng dẫn theo cách này th́ sẽ có nhiều nguy cơ nhận lấy những hậu quả tiêu cực từ việc trị liệu.

Mục đích của liệu pháp Gestalt là sự nhận biết về bản thân. Việc này bao gồm cả những nhận biết có tính vi mô (microawareness) về một nội dung cụ thể nào đó, và cả khả năng nhận biết về tiến tŕnh nhận biết (awareness of the awareness process). Sự nhận biết tiến tŕnh nhận biết càng làm mạnh thêm khả năng ‘‘mang những thói quen thường được thực hiện một cách tự động vào trong tầm nhận biết khi cần thiết’’, đồng thời sử dụng khả năng nhận biết có trọng điểm và các thực nghiệm hiện tượng học để tập trung, làm rơ và thử áp dụng những hành vi mới. Sự nhận biết này có nghĩa là hiểu biết được những ǵ mà một người đang lựa chọn để làm và v́ thế người ấy có khả năng nhận trách nhiệm về việc làm đó. Tập trung (centering) là khả năng trở nên trầm tĩnh và có trật tự về thời gian, không gian, bối cảnh và nội tâm, sao cho đương sự được định hướng rơ ràng bên trong Trường (field), hài ḥa với bản thân, hít thở nhẹ nhàng, biết rơ các sở nguyện và những giới hạn của bản thân.

Hầu hết các thân chủ lúc đầu đều chú ư đến việc giải quyết vấn đề và làm giảm nhẹ triệu chứng. Mặc dù các nhà trị liệu Gestalt hiểu giá trị của các mục đích này, nhưng họ quan tâm nhiều hơn đến tiến tŕnh làm thế nào để thân chủ trở nên tự lực và cách thức để thân chủ tự t́m thấy cách thức riêng để giải quyết vấn đề cũng như giảm nhẹ triệu chứng. Mục đích trị liệu do vậy không phải là giải quyết vấn đề hoặc loại bỏ triệu chứng, mà là ‘‘giúp thân chủ có được những công cụ’’ để giải quyết vấn đề và tăng cường khả năng của họ trong việc tự tổ chức lại cuộc sống nói chung. Liệu pháp Gestalt giúp giải quyết vấn đề bằng cách gia tăng khả năng tự lực và tự điều chỉnh của thân chủ. Khi trị liệu tiếp diễn, trọng tâm sẽ được chuyển dần sang những chủ đề khái quát hơn liên quan đến nhân cách của thân chủ. Nhờ lĩnh hội được các kỹ năng trong giai đoạn đầu của việc trị liệu, thân chủ có thể thực hiện những khám phá sâu hơn về nhân cách của họ.

Tiến tŕnh trị liệu 1: Tôi và Bạn, Ở đây và Ngay lúc này, Cái ǵ và Như thế nào

Liệu pháp Gestalt thuộc nhóm các liệu pháp kinh nghiệm (experiential therapy), v́ thế nó thúc đẩy sự tăng trưởng của thân chủ bằng cách phát triển nên một mối quan hệ dựa trên sự tiếp xúc thông qua đối thoại và một phương pháp luận về tiến tŕnh khám phá thông qua khả năng nhận biết liên tục của thân chủ. Các khẩu hiệu: ‘‘Tôi và Bạn’’ (I and Thou), ‘‘Ở đây và Ngay lúc này’’ (Here and Now), ‘‘Cái ǵ và Như thế nào’’ (What and How) thể hiện tinh thần của tiến tŕnh này.

Tôi và Bạn

Liệu pháp Gestalt được tiến hành dựa trên cơ sở một sự tiếp xúc trực tiếp, sống động và đầy tính chất cảm xúc, trong đó nhà trị liệu vừa hiện diện cùng với thân chủ, vừa làm một điều ǵ đó cho thân chủ. Đây là xu hướng chung của liệu pháp Gestalt trong thập niên 1990; trong đó nhà trị liệu không chỉ sử dụng các phương pháp chú tâm và thực nghiệm hiện tượng học nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng tối đa cho thân chủ, mà c̣n ‘‘đi cùng’’ thân chủ theo cách thức tương tự như Martin Buber, Carl Rogers và các nhà tâm lư nhân văn khác đă thực hiện.

Các kỹ thuật phải tuân thủ những nguyên lư. Nguyên lư là quan trọng; c̣n từng kỹ thuật riêng biệt th́ không quan trọng. Bất cứ kỹ thuật nào cũng có thể được sử dụng trong liệu pháp Gestalt, và không có một kỹ thuật nào có vị thế đặc biệt cả. Các nguyên lư chính trong liệu pháp Gestalt là những nguyên lư đang chi phối những mối quan hệ của con người, đặc biệt là mối quan hệ trị liệu.

Các kỹ thuật của liệu pháp Gestalt thường có tính linh hoạt và là sự ứng dụng một cách sáng tạo các kiến thức của nhà trị liệu nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho việc thiết lập các t́nh huống học tập thông qua những thực nghiệm hiện tượng học và nhằm tạo nên các tương tác trị liệu với một thân chủ cụ thể vào một thời điểm cụ thể. Thái độ này dẫn đến việc nhà trị liệu Gestalt có thể ứng dụng và vay mượn nhiều loại kỹ thuật có hiệu quả từ những nhà trị liệu thuộc các trường phái khác nhau. Điều không may là trong các nghiên cứu, dù nhà trị liệu vay mượn các kỹ thuật từ những trường phái khác hay sử dụng các kỹ thuật và phương thức được gọi là ‘‘của trường phái Gestalt’’, các kỹ thuật vẫn được nhấn mạnh nhưng quá tŕnh các kỹ thuật ấy được sáng tạo và áp dụng trong liệu pháp Gestalt th́ lại không được nêu rơ. Trong lư thuyết của liệu pháp Gestalt, điều quan trọng là nhà trị liệu làm ǵ và việc ấy được tiến hành ra sao, chứ kỹ thuật được áp dụng có phải là kỹ thuật của liệu pháp Gestalt hay không th́ không phải là điều quan trọng.

Tại đây và Ngay lúc này

Những ǵ thân chủ đang thể hiện không được xem là ‘‘định sẵn’’ từ quá khứ và cũng không phải là sự lập lại một cách vô thức những quan hệ đă có trước đó (Thái độ này đối ngược lại với lư thuyết phân tâm – ND). Trong học thuyết về Trường, tất cả các yếu tố có ảnh hưởng qua lại đều cùng hiện diện ‘‘tại đây và ngay lúc này’’ trong Trường. Kurt Lewin (1938) gọi đây là ‘‘Nguyên lư về Tính đồng thời’’ (Principle of Contemporaneity).

Con người có thể mang các trải nghiệm trong cuộc sống và sự nhận biết của ḿnh hội tụ vào thời điểm hiện tại. Trong liệu pháp Gestalt, việc khảo sát các ảnh hưởng của những trải nghiệm trong quá khứ chủ yếu dựa trên các dữ liệu từ trải nghiệm của thân chủ chứ không dựa trên các diễn giải những biểu trưng của nhà trị liệu. Càng bám sát vào các trải nghiệm trực tiếp của thân chủ, nhà trị liệu càng ở gần những ‘‘sự thật’’ của thân chủ - điều này có giá trị cao hơn những ‘‘sự thật của các chuyên gia’’.

Tập trung vào những ǵ ‘‘tại đây và ngay lúc này’’ cho phép có sự b́nh đẳng giữa thân chủ và nhà trị liệu, v́ trong Trường hiện tại, tất cả các đối tác đều có thể sử dụng những cảm nhận, sự trực giác và khả năng sáng tạo của ḿnh để khám phá những ảnh hưởng phức tạp luôn đang vận hành. Liệu pháp Gestalt không áp dụng kỹ thuật diễn giải như các nhà trị liệu phân tâm. Thân chủ thường được xem là ‘‘chuyên gia’’ về khả năng nhận biết và về sự tồn tại của chính họ, c̣n nhà trị liệu không ǵ khác hơn là một cố vấn cho thân chủ.

Thân chủ sẽ có được khả năng tự lực tốt nhất nếu họ ‘‘tập trung vào hiện tại’’ (present-centered). Tập trung vào hiện tại có nghĩa là sự hiểu biết bằng tất cả con người của ḿnh về điều ǵ ḿnh đang làm và nhu cầu nào ḿnh đang lưu tâm đến trong Trường sinh thể - môi trường ở thời điểm hiện tại (Present-centeredness means knowing with one’s whole being what one is doing and what need is being addressed in the present organism-environment field). Phật giáo gọi việc này là "sự chuyên tâm" hay thường gọi là "chánh niệm" (mindfulness). Việc dấn thân một cách mạnh mẽ và nhận biết được điều ǵ là quan trọng nhất sẽ giúp chúng ta hoàn tất các gestalt (tức là đạt đến sự măn nguyện) và làm xuất hiện các gestalt mới (tức là tăng trưởng).

Tất cả các hoạt động đều xảy ra một cách đồng thời, nhưng thường th́ người ta không nhận biết rơ được ḿnh đang làm ǵ và đang cần ǵ. Phật giáo gọi việc này là "sự lăng quên" (forgetfulness). Khi thân chủ đương đầu với những kư ức từ thời thơ ấu và sống lại chuyện ấy bằng những cảm xúc ngay trong hiện tại, những năng lượng tâm trí và hoạt động nhớ lại chuyện quá khứ kia thực sự là xảy ra trong hiện tại. Trái lại, nếu cái quá khứ đang được gợi nhớ kia chỉ là để tin rằng ‘‘chuyện trước kia gây ra chuyện hôm nay’’, hoặc như một sự lập lại theo thói quen, th́ những ǵ đáng quan tâm trong hiện tại sẽ bị bỏ qua để thay vào đó là sự ‘‘lư trí hóa’’ các trải nghiệm.

Cũng tương tự như vậy, sự hoạch định cho tương lai cũng là một việc xảy ra trong hiện tại, trong đó con người trở nên có hệ thống hơn và chuyên tâm vào tương lai để có thể làm công việc chuẩn bị cho tương lai ấy. Suy nghĩ về tương lai mà không có sự chú tâm vào hiện tại chỉ dễ dẫn đến trạng thái lo âu mà thôi.

Cái ǵ và Như thế nào

Cả lư thuyết về tiến tŕnh lẫn hiện tượng học đều thích sử dụng các phương pháp mô tả hơn là phương pháp dựa trên các lư giải. Các câu hỏi cơ bản nhất trong liệu pháp Gestalt không phải là ’’Tại sao?’’, mà là ‘‘Cái ǵ?’’.  Bạn đang trải nghiệm điều ǵ? Bạn đang làm ǵ? Bạn đang cần ǵ? Sự mô tả có thể ở gần hơn với các trải nghiệm, có thể quan sát và cảm nhận được từ bên trong, trong khi những lời giải thích th́ chỉ có tính suy đoán và cách xa với các trải nghiệm.

Một câu hỏi khác đồng thời kèm theo đó là ‘‘Như thế nào?’’. Câu hỏi ‘‘Như thế nào’’ chính là trung tâm của việc định hướng vào tiến tŕnh (process orientation) trong Học thuyết về Trường: Xem xét một cách chính xác bằng cách nào mà tiến tŕnh này diễn ra trong đó có sự tham gia của thân chủ vào tiến tŕnh.

Tiến tŕnh trị liệu 2: Các thực nghiệm, kỹ thuật và các chiến lược

Liệu pháp Gestalt nhấn mạnh vào (1) Mối quan hệ trị liệu, được sâu đậm hơn nhờ sự hợp tác làm việc chung của hai phía, từ đó cho phép thực hiện các thực nghiệm (experimentations), và (2) Khả năng nội thị (insight) về nội dung và tiến tŕnh diễn ra thông qua sự nhận biết và thực nghiệm tích cực và có trọng tâm. Cả hai điều này đă làm nên hầu hết sức mạnh hiệu quả của liệu pháp Gestalt.

Các kỹ thuật được áp dụng trong liệu pháp Gestalt bao gồm tất cả những hoạt động trị liệu thường thấy như việc lắng nghe có tính thấu cảm và kỹ thuật phản ánh; ngoài ra, nhà trị liệu Gestalt c̣n có thể vượt xa hơn bằng cách áp dụng bất cứ loại kỹ thuật trị liệu nào sẵn có cũng như sáng tạo những phương thức can thiệp ngay trong t́nh huống trị liệu. Những kỹ thuật ấy có thể kể đến: thực nghiệm giải tỏa cảm xúc (cathartic experimentation), h́nh dung (visualization), theo dơi các suy nghĩ (cognitive monitoring), thiền định (meditation) và thư giăn (relaxation) và các thực nghiệm bằng động tác cơ thể (experiments with movement).

Trọng tâm nhằm đạt đến khả năng nhận biết có thể thay đổi từ h́nh thức thảo luận về một vấn đề cụ thể, thông qua kỹ thuật phản ánh dựa trên chủ đề chung và việc huấn luyện các kỹ năng tâm lư, cho đến h́nh thức nội thị sâu sắc về các mô h́nh vận hành trong nhân cách cũng như các trải nghiệm về mặt phát triển, và sau cùng là thống hợp lại (integration) và đồng hóa (assimilation). Ngay cả khi làm việc với thân chủ trên b́nh diện nội dung, nhà trị liệu vẫn rất chú tâm đến các tiến tŕnh, nhất là các tiến tŕnh xảy ra việc thân chủ tham gia vào hoặc làm gián đoạn việc nhận biết về bản thân và tiếp xúc với người khác. Có lúc nhà trị liệu tập trung quan sát tiến tŕnh nhưng vẫn giữ nội dung bàn luận ở vị trí nổi bật; có lúc nhà trị liệu sử dụng nội dung bàn luận như một tiêu điểm cụ thể để cho tiến tŕnh có thể diễn ra. Giai đoạn trị liệu sau đó tiêu điểm được tập trung mạnh nhất có lẽ sẽ thuần túy là khả năng nhận biết về các tiến tŕnh (process awareness).

Những can thiệp trị liệu là những hành vi thực nghiệm cụ thể được đề xuất từ sự hợp tác làm việc giữa thân chủ và nhà trị liệu. Những việc này luôn luôn nhắm tới việc ‘‘khám phá một điều ǵ đó’’ chứ không trực tiếp nhắm đến việc thay đổi hành vi. Những thực nghiệm là những việc được đề xuất để tập trung vào khả năng nhận biết bản thân mà thân chủ có thể sử dụng để làm gia tăng sức mạnh, sự linh hoạt và sự sáng tạo của những trải nghiệm mà họ có được từ trị liệu. Ngay cả những bài tập luyện về sự chú tâm đơn giản như thư giăn và kiểm soát hơi thở cũng được tiến hành với cùng một thái độ có tính thực nghiệm như vậy: ‘‘Hăy từ từ hít vào, nhẹ nhàng thở ra, rồi xem thử điều ǵ xảy ra với bạn’’.

Liệu pháp Gestalt khuyến khích nhà trị liệu cần phải sáng tạo (Zinker, 1977). Những quyển ‘‘cẩm nang’’ cho nhà trị liệu là điều không phù hợp với tinh thần của liệu pháp Gestalt. Kiến thức, kinh nghiệm và định hướng huấn luyện của nhà trị liệu sẽ phần nào xác định việc nội dung được khám phá là điều ǵ và việc ấy được thực hiện theo tŕnh tự như thế nào trong khi trị liệu. C̣n tiến tŕnh khám phá diễn ra như thế nào th́ phần nhiều mang tính nghệ thuật. Tính xác thực, sáng tạo và trực giác là những thứ thiết yếu cho sự tiếp xúc và nhận biết phong phú giúp phân biệt liệu pháp Gestalt với các phương pháp tiếp cận trị liệu rập khuôn và cứng nhắc.

Trong liệu pháp kinh nghiệm, nhà trị liệu bắt đầu bằng những ǵ đang được trải nghiệm. Nhà trị liệu Gestalt thực hiện một quan sát đầy đủ trên hàng loạt các dữ liệu và cho phép tạo lập nên một Ảnh rơ rệt nhất. Từ cuộc tiếp xúc ban đầu, nhà trị liệu sẽ tự động quan sát và lưu ư cách thức mà thân chủ đă ảnh hưởng đến ḿnh một cách chủ quan. Dĩ nhiên, nhà trị liệu cần phải phân biệt rơ điều ǵ là những ‘‘vụ việc chưa hoàn tất’’ của chính ḿnh và điều đó đang được ‘‘kích hoạt’’ bởi vấn đề của thân chủ (tức là hiện tượng ‘‘chuyển di ngược’’) và các hệ quả tập trung vào hiện tại.

Các thực nghiệm trong liệu pháp Gestalt, dù có vẻ như nhắm vào một hành vi cụ thể nào đó, nhưng chúng vẫn thực sự là những thực nghiệm: ‘‘Hăy làm thử điều ấy và học tập từ đó’’. Với ư nghĩa đó, thân chủ và nhà trị liệu cùng nhau thực nghiệm trong mối quan hệ được thiết lập giữa họ với nhau.

Câu hỏi cơ bản hay được nhà trị liệu đặt ra là ‘‘Bạn đang trải nghiệm điều ǵ ngay lúc này?’’ Việc này thường được mở rộng thành các thực nghiệm, qua đó thân chủ liên tục báo cáo lại những ǵ mà họ trải nghiệm được (một liên thể của sự nhận biết: awareness continuum). Điều này đẫn đến nhiều hệ quả. Khi thân chủ nêu ra những cảm xúc của họ về một ai đó hiện không có mặt trong pḥng trị liệu, việc ấy sẽ dẫn đến việc thực hiện một thực nghiệm trong đó thân chủ tưởng tượng người đó đang ngồi trong pḥng trên một chiếc ghế trống. Rồi sau đó thân chủ sẽ báo cáo lại một lần nữa về những ǵ mà họ đă trải nghiệm. Điều nối tiếp theo sau đó có thể là cảm xúc nhiều hơn, rơ rệt hơn, hoặc một ư muốn trốn chạy, hổ thẹn, hoặc có thể là sự giảm nhẹ các khó chịu vv... Sự biểu lộ cảm xúc một cách trực tiếp thường mang lại một tiêu điểm tập trung sắc nét hơn, sự trải nghiệm sống động hơn, rơ rệt hơn và thực sự là một giải pháp hơn là việc chỉ ‘‘nói về’’ đối tượng như một ngôi thứ ba. Chính v́ lư do ấy mà thực nghiệm ‘‘chiếc ghế trống’’ thường được áp dụng.

Các thực nghiệm hiện tượng học và sự tiếp xúc qua đối thoại có thể được áp dụng cho trị liệu cá nhân, gia đ́nh, nhóm, cặp và cả cho các thiết chế (institutions). Về mức độ, các thực nghiệm có thể thực hiện trên cả b́nh diện nội tâm lẫn b́nh diện liên cá nhân, và từ mức độ ‘‘nhập môn’’ cho đến cả mức độ rất sâu. Các thực nghiệm đôi khi có tính chất đi sâu vào lĩnh vực tinh thần, mặc dù nhà trị liệu Gestalt vẫn thường sử dụng những ngôn từ rất ‘‘đời thường’’.

Các thực nghiệm có thể có những mục đích sau:

  1. Làm rơ hơn những ǵ mà thân chủ đă nhận biết và tạo nên những liên kết mới giữa những nội dung đă được nhận biết

  2. Đưa vào tiêu điểm nhận biết những nội dung mà ban đầu chỉ ở vùng ‘‘ngoại vi’’ của sự nhận biết

  3. Đưa những nội dung quan trọng vào trong tầm nhận biết mà thân chủ lúc ban đầu đă cố gắng một cách có hệ thống giữ chúng ở bên ngoài sự nhận biết

  4. Đưa cả những cố gắng ngăn trở sự nhận biết có hệ thống này vào trong tầm nhận biết, đặc biệt là những cơ chế ngăn trở các suy nghĩ và cảm xúc khiến thân chủ ban đầu không nhận biết được chúng

  5. Thực nghiệm những kiểu thức mới trong suy nghĩ, ứng xử và nhận biết, bao gồm cả những phương thức có tính tự lực như thiền định, thư giăn và luyện thở. Các thực nghiệm thường được áp dụng hiệu quả là những cách thức mới trong việc khám phá hoặc tái định dạng những trải nghiệm cũ. Việc trị liệu thường làm cho những thực nghiệm có tính hành động dễ thực hiện hơn, ví dụ: mở rộng các quan hệ xă hội sau khi đă khơi thông nỗi sợ hăi những t́nh cảm mật thiết. Nhiều thân chủ từng bị lạm dụng đă t́m thấy sự b́nh phục sau khi thể hiện hung tính của họ chống lại kẻ đă làm hại họ thông qua hoạt động ‘‘sắm vai’’ (role-playing) hoặc các thực nghiệm giải tỏa cảm xúc (cathartic experiments).