www.tamlytrilieu.com                

 

RỐi loẠn stress sau sang chẤn 

(PTSD: Post-Traumatic Stress Disorder)

 BS. NguyỄn Minh TiẾn

 

Vào lúc khởi đầu của ngành tâm thần học hiện đại, những sự kiện có tính cách quá sức chịu đựng hoặc ngoài tầm khả năng kiểm soát của con người – được biết như những sang chấn tâm lư (psychological trauma) đă là trung tâm của sự chú ư. Sigmund Freud đầu tiên đă nghĩ rằng những sang chấn thời thơ ấu là nguyên nhân gây ra những chứng bệnh tâm thần, và ông đă diễn giải triệu chứng của những bệnh nhân bị bệnh hysterie và các chứng nhiễu tâm khác như là sự tái hiện mang tính biểu tượng của những sự kiện gây sang chấn xảy ra trong thực tế trước đó. Nhưng, về sau, khi ông nhận thấy rằng câu chuyện của những bệnh nhân của ông phần lớn là các huyễn tưởng (fantasy) và do sự diễn giải sai lầm (misinterpretation) th́ vai tṛ của các sang chấn tâm lư trong quá tŕnh h́nh thành các chứng nhiễu tâm trở nên ít được chú ư hơn. Các bác sĩ tâm thần thường có khuynh hướng mô tả các sang chấn đặc hiệu, ví dụ những trải nghiệm trong chiến tranh, trong các trại tập trung, các vụ cưỡng bức t́nh dục, các thảm họa dân sự, xâm hại trẻ em... như những vấn đề tách biệt. Chỉ đến những thập niên cuối thế kỷ XX người ta mới nhận ra nhiều đặc điểm chung của các t́nh trạng ấy.

Bản chất của sang chấn, lứa tuổi và nhân cách của nạn nhân, cùng những phản ứng của bạn bè, gia đ́nh và cộng đồng, tất cả đều có ảnh hưởng lên kết quả cuối cùng; nhưng hội chứng rối loạn stress sau sang chấn (PTSD: post-traumatic stress disorder) vẫn xuất hiện với những đặc điểm nhất định không đổi cho dù những yếu tố phụ trợ nêu trên có thể khác nhau. Sự kiện gây sang chấn thường được tiếp theo sau bởi một giai đoạn chết lặng cảm xúc và phản ứng chối từ có thể kéo dài nhiều giờ cho đến nhiều năm. Kế đó, những ư nghĩ và cảm xúc đi kèm theo sự kiện sẽ được tái hiện lại một cách vô thức. Sự tái hiện này có thể xuất hiện dưới nhiều h́nh thức, có thể là những cơn ác mộng, những ấn tượng thị giác, ư nghĩ ám ảnh, ảo giác và sự tái diễn hay sống lại những trải nghiệm về sang chấn. Trong giai đoạn này nạn nhân có thể được chẩn đoán lầm là tâm thần phân liệt hoặc sử dụng ma túy. Sự sống lại và ch́m đắm trong sang chấn cứ lập đi lập lại và luân phiên với những giai đoạn chết lặng và chối từ về cảm xúc. Trong những trường hợp ít nghiêm trọng hơn, chu tŕnh này sẽ được giải quyết và các sự kiện gây sang chấn sẽ được ḥa lẫn vào các trải nghiệm sống của nạn nhân. Tuy nhiên, t́nh trạng này có thể trở thành kinh niên khi sang chấn cứ lập đi lập lại hoặc vượt quá sức chịu đựng, như trường hợp xâm hại trẻ em kéo dài, những trải nghiệm trong các trại tập trung, hoặc sang chấn xảy ra ở những người lớn đă từng có một tuổi thơ bất hạnh...  

Người ta chưa hiểu rơ tại sao nhiều người vẫn có khả năng chịu đựng được những “công kích” từ các sự kiện gây sang chấn mà không bị ảnh hưởng lâu dài, trong khi đó những người khác th́ lại có thể bị “gắn chặt” vào sang chấn. Mức độ của stress chắc chắn là một yếu tố quan trọng, bởi v́ tất cả mọi người đều có một mức độ giới hạn nhất định của sự chịu đựng: ít có ai sống sót từ các trại tập trung của Đức Quốc xă mà lại không bị tổn thương về tâm lư.

Giai đọan phát triển cảm xúc của nạn nhân cũng rất quan trọng: một người lớn có cá tính mạnh và được một hệ thống hỗ trợ xă hội tốt sẽ có điều kiện được bảo vệ trước các sang chấn tốt hơn nhiều so với một đứa trẻ. Những thanh niên Mỹ tham dự chiến tranh Việt Nam cũng được thấy dễ xảy ra PTSD.

Trong thực tế, việc cắt đứt hoặc mất hẳn sự hỗ trợ xă hội dường như là một nguyên nhân quan trọng của việc mất khả năng khắc phục các ảnh hưởng của sang chấn. Điều này được thấy trong các thảm họa dân sự khi bị cắt đứt khỏi sự liên lạc với cộng đồng chung – tai nạn tại đảo Three Mile và thảm họa chất độc tại Love Canal là những ví dụ. Thậm chí c̣n thương tâm hơn trong những trường hợp trẻ em bị ngược đăi về thể xác hoặc bị xâm hại t́nh dục bởi chính những người lớn mà các em phụ thuộc vào để sống. Trái lại, có nhiều người dường như vẫn “b́nh yên” sau sang chấn tâm lư nếu môi trường sống mang đến cho họ những sự hỗ trợ cần thiết.

Ở những người mà hậu quả của sang chấn đă ăn sâu bén rễ, sẽ xuất hiện cảm giác “bơ vơ”, “mất chỗ dựa” và cảm giác “bị bạc đăi”. Họ cảm thấy không thể chủ động quyết định được số phận của chính ḿnh. Thay vào đó, trong t́nh trạng mất chỗ dựa ấy, tâm trí họ vẫn thường xuyên ở trong trạng thái cảnh giác về một khả năng trở lại của sang chấn. Một số âm thanh, mùi hương và một vài t́nh huống đặc biệt có thể kích thích sự tái hiện một kư ức về sang chấn, kèm theo những cảm giác không thể chịu đựng nỗi. Một cách thức để đương sự có thể giải quyết nỗi sợ này là tránh né tất cả những t́nh huống, thậm chí tránh né cả những cảm xúc nào có liên quan đến sang chấn. Điều này dễ dẫn đến trạng thái tự cô lập bản thân ra khỏi các mối quan hệ xă hội hoặc đương sự t́m cách tự vùi ḿnh vào công việc.

Những sang chấn tâm lư nghiêm trọng nhất là khi có sự phá vỡ những mối quan hệ thân thiết, gây mất ḷng tin nặng nề, như những trường hợp loạn luân, chứng kiến cái chết thê thảm của người mà ḿnh thương yêu; hoặc khi có sự phá vỡ sự ṭan vẹn của bản ngă như trong các trường hợp nạn nhân bị hiếp dâm, tra khảo, hoặc những người đă thực hiện những hành vi hung bạo trong điều kiện stress quá sức chịu đựng. Nhiều người bị sang chấn đă tránh né những mối quan hệ thân thiết, v́ họ sợ xảy ra một sự xâm phạm khác đối với sự gắn bó ấy. Việc tránh né các mối quan hệ cảm xúc làm giảm đi ư nghĩa của đời sống sau sang chấn và tiếp tục duy tŕ những ảnh hưởng tiêu cực của sang chấn.

Mặc dù đă tự giới hạn ḿnh về các quan hệ cảm xúc, nhưng cơ thể của những nạn nhân bị sang chấn vẫn tiếp tục phản ứng với các kích thích về thể chất cũng như về cảm xúc như thể vẫn c̣n tồn tại những nỗi lo sợ bị hủy diệt. Hệ thần kinh thực vật vẫn tiếp tục chuẩn bị cho cơ thể của một trạng thái cảnh giác, “chuẩn bị hành động”. Đă có trường hợp một cựu binh sau chiến tranh đă có có lúc nh́n lầm những cử động của người bạn t́nh trên giường ngủ như là... một cuộc tấn công của đối phương. Những tiếng động nhỏ len vào pḥng ngủ của một người bị hội chứng PTSD cũng có thể gây nên một cơn ác mộng sống động bao gồm cả việc tái hiện lại thật chi tiết những sự kiện gây sang chấn trước đó. Những nạn nhân này thường cố xua đuổi các kư ức về sang chấn ra khỏi phần ư thức t́nh táo của họ, và chỉ thấy chúng trở lại trong giấc ngủ. Những cơn ác mộng như thế thường xảy ra vào các thời điểm có các sự kiện chuyển biến quan trọng về thể chất hoặc tâm lư như tuổi dậy th́, khi lập gia đ́nh, sinh con, bắt đầu bị một căn bệnh hoặc khi về hưu...

Khi việc “rút lui” khỏi những quan hệ cảm xúc bị thất bại, một số người có thể bị ch́m đắm trở lại vào sự tái diễn lại sang chấn. Những cựu binh Mỹ sau chiến tranh Việt Nam lại có thể ṭng quân làm lính đánh thuê, những nạn nhân của tệ lọan luân trở thành gái măi dâm, những trẻ em từng bị ngược đăi thể xác có khuynh hướng thường xuyên thực hiện những việc làm tự gây thương tích cho bản thân. Freud trước đây xem việc đương sự tự ư tiếp xúc lại với sang chấn như là một cố gắng tích cực nhằm giành lại quyền làm chủ bản thân (mastery). Ngày nay, có bằng chứng cho thấy rằng, trong khi đáp ứng với sang chấn, đă có sự gia tăng sản xuất các chất endorphinenkephalin, những chất giống như morphin, xuất hiện một cách tự nhiên bên trong năo của đương sự. T́nh trạng sang chấn nghiêm trọng và lập đi lập lại có thể khiến cơ thể đương sự bị “nghiện” với các chất opioid của chính ḿnh, và t́nh trạng nghiện này được thỏa măn bằng cách tiếp xúc trở lại với các hoàn cảnh tương tự như hoàn cảnh gây ra sang chấn. Lư thuyết này cũng phù hợp với thực tế rằng những ảnh hưởng tâm-sinh lư thường xuyên của sang chấn đă khiến nhiều nạn nhân t́m đến với rượu và ma túy.

Sự giới hạn cảm xúc, t́m kiếm hoặc tái diễn lại sang chấn, lạm dụng ma túy, rượu như hậu quả của sang chấn, đă tạo thêm những vấn đề hoàn toàn mới và thường là không giải quyết được, khiến làm lu mờ nguyên nhân gây sang chấn ban đầu. Một số nhà chuyên môn về sức khỏe tâm thần không thực hiện thường qui việc hỏi những bệnh nhân của họ về t́nh trạng ngược đăi thân thể hoặc lạm dụng t́nh dục. Nhiều tài liệu chuyên môn c̣n có khuynh hướng xem những vấn đề “dị thường” này chỉ có thể xảy ra ở các “tầng lớp thấp” trong xă hội. Thế nhưng t́nh trạng loạn luân và xâm hại trẻ em lại có thể xảy ra ở tất cả mọi thầnh phần trong dân chúng, và việc lạm dụng rượu hay ma túy để đáp ứng với sang chấn th́ hầu như có tính phổ quát.

Hầu hết các sự kiện gây sang chấn quá sức chịu đựng đều có liên quan đến chấn thương thân thể hoặc xâm hại t́nh dục. Vụ bắt cóc trẻ em trên xe đưa rước học sinh ở Chowchilla, California là không b́nh thường v́ có 26 nạn nhân không bị tổn thương về thân thể. Tuy nhiên, bốn năm sau, tất cả số trẻ này đều được thấy có biểu hiện của PTSD ở nhiều mức độ, và các triệu chứng đều đặc biệt tương tự như nhau, dù rằng các trẻ này có sự khác biệt lớn về tuổi tác và ở vào các giai đoạn phát triển tâm thần-cảm xúc khác nhau.

Trẻ em đặc biệt rất nhạy cảm với những tác động kéo dài của sang chấn tâm lư và t́nh trạng dằn xé càng trầm trọng khi thủ phạm gây ra sang chấn lại là một người lớn mà trẻ đang trông cậy vào để có được t́nh yêu thương và sự che chở. Những trẻ em là nạn nhân của tệ loạn luân hoặc ngược đăi thể xác thường bị mất cảm giác cơ bản về sự an toàn; trẻ có thể phải suốt đời đấu tranh với sự ḥai nghi, với sự giận dữ bị dồn nén và với những kư ức thương đau. Để duy tŕ ḷng tin vào người mà trẻ đang sống phụ thuộc, trẻ thường có khuynh hướng tự kết tội chính bản thân ḿnh hoặc qui cho một tác nhân khác ở bên ngoài đă gây ra t́nh trạng ngược đăi. Giống như trường hợp những người lớn đă “đồng cảm” với những kẻ khủng bố bắt cóc họ, những trẻ em bị ngược đăi cũng có thể “đồng cảm” với thủ phạm gây ra ngược đăi và “bảo vệ” cho họ, việc xâm hại chỉ có thể được chứng minh sau một thời gian tiếp xúc lâu dài và thăm hỏi thân t́nh. T́nh trạng tự căm ghét bản thân của trẻ có thể được biểu hiện bằng nhiều cách khác nhau: từ trầm cảm nhẫn nhục, cho đến việc nhiều lần tự gây thương tích cho bản thân và thậm chí là mưu toan tự sát. Một số trẻ bị ngược đăi, đặc biệt là các bé trai, có thể chuyển sự gây hấn ra bên ng̣ai dưới h́nh thức các hành động chống đối xă hội.

Nhiều trẻ bị ngược đăi có chỉ số thông minh thấp và một số cho thấy có tổn thương thần kinh ngay cả khi không bị chấn thương ở vùng đầu. Những cảm giác quá sức chịu đựng liên quan đến sang chấn có ảnh hưởng đến khả năng sắp xếp thông tin một cách hợp lư. Những trẻ này khi tiếp xúc với những kích thích gợi lại sang chấn, những cảm giác nảy sinh thậm chí có thể gây ra một phản ứng lọan thần.

Các sang chấn cấp (acute trauma) được trị liệu tốt nhất là khi nó vừa xảy ra. Các tác động của tai nạn hoặc thảm họa có thể được giải quyết nếu như các phản ứng pḥng vệ chống lại kư ức về sang chấn không trở nên quá nổi trội khiến cho nó bị phân ly, tách biệt khỏi ư thức nạn nhân. Một khi những tác động này trở nên kéo dài, có thể sẽ khó khăn cho cả nạn nhân lẫn người trị liệu trong việc hiểu được mối tương quan giữa các kư ức về sang chấn và cơ cấu pḥng vệ thứ phát, mà từ đó dẫn đến lạm dụng rượu, trầm cảm mạn tính, hành vi bốc đồng, tính nét bừa băi, tai nạn giao thông, và thậm chí cả xâm hại trẻ em.

Điều quan trọng ngay từ đầu là phải xác định rơ cả sự khác biệt lẫn sự liên hệ giữa sang chấn ban đầu và những hành vi kém thích nghi xảy ra sau đó. Khi hiểu được mối liên hệ này, lọai hành vi ấy sẽ tạm thời giảm bớt. Khi mối liên hệ không được xác định, nạn nhân bị PTSD sẽ càng lúc càng trở nên hụt hẫng, và thậm chí đặt ra những đ̣i hỏi nài nỉ với nhà trị liệu. Mối quan hệ giữa bệnh nhân và nhà trị liệu khi đó trở nên có tính “lạm dụng lẫn nhau” (mutually abusive) bằng cách có thể gây hồi tưởng lại một số khía cạnh của sang chấn bạn đầu. Học cách dung nạp những cảm giác liên quan đến sang chấn là công việc chủ yếu của hầu hết các nạn nhân. Họ thường nhất thời trở nên căng thẳng hơn, rối loạn hơn khi phải nhận diện những cảm giác xuất hiện lúc họ phản ứng với những sự kiện trong quá khứ và trong hiện tại. Họ có thể cần phải được dùng thuốc để làm giảm những đáp ứng khó chịu về thể chất và cảm xúc. Nhưng những nỗi sợ hăi trong quá khứ chỉ có thể được trải nghiệm một cách an toàn chỉ khi nào thiết lập được một mối quan hệ trị liệu ngày càng có thêm ḷng tin và sự an toàn. Việc xây dựng một sự hợp tác trị liệu như thế có thể bị ảnh hưởng bởi sự giới hạn cảm xúc về quá khứ, t́nh trạng lạm dụng rượu, ma túy, và các hành vi kém thích nghi khác.

Chỉ hiểu biết về quá khứ thôi chưa đủ để hồi phục lại tổn thương, dù điều đó làm sáng tỏ những ǵ đă xảy ra và giúp cho người bệnh hướng đến những cách thức tốt hơn trong việc giải quyết các hậu quả của sang chấn. Mối quan hệ trị liệu tự nó có lẽ là phần quan trọng nhất của việc trị liệu; nó giúp tái lập ḷng tin cơ bản và thuyết phục người bệnh tin rằng những trải nghiệm mà họ đă có là sự thật chứ không phải là sự tưởng tượng bệnh hoạn. Trị liệu nhóm (group therapy) là đặc biệt có ích. Nó cho phép nạn nhân bị sang chấn chia sẻ cái quá khứ riêng tư của họ với những người khác; những người này cũng sẽ hiểu được họ v́ cũng đă từng có những trải nghiệm tương tự như họ. Cùng lúc ấy, nạn nhân có thể thiết lập được những mối quan hệ chân t́nh với những “người bạn đồng hành” này. Trị liệu nhóm giúp nạn nhân thoát khỏi tính thụ động và cảm giác thường xuyên thấy ḿnh là nạn nhân, bởi trong nhóm, khi một người nào đó đang cố gắng đương đầu với một vấn đề, th́ những người khác có thể làm dịu bớt sự lo âu khi nó nảy sinh. Hoàn cảnh trị liệu nhóm cũng gần giống với đời sống thực tế hơn là trị liệu cá nhân, v́ các thành viên trong nhóm cũng đặt ra cho nhau cả những đ̣i hỏi thích hợp lẫn không thích hợp, và những đ̣i hỏi này đôi khi cũng “nhuốm màu” sang chấn trong quá khứ. Chỉ sau khi bệnh nhân có thể tách biệt được những cảm giác thuộc về sự kiện trong quá khứ với những cảm giác thích hợp trong hiện tại, họ mới có thể tái lập được một cảm nhận về lịch sử của bản thân ḿnh với một quá khứ, một hiện tại và một tương lai. 

Tham khảo: Post-Traumatic Stress Disorder

(Bessel van der Kolk, M.D., Giảng viên môn Tâm thần học, ĐH Y khoa Harvard; Giám đốc Cơ sở Trị liệu Sang chấn Traumatic Clinic, thuộc Trung tâm Sức khỏe Tâm thần Massachusetts, Hoa Kỳ)