www.tamlytrilieu.com
RỐI
LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ư
(ATTENTION
DEFICIT
HYPERACTIVITY
DISORDER)
Người
dịch:
BS
NGUYỄN MINH TIẾN
(Theo
Diagnostic And Statistical Manual of Mental Disorders, 4th Edition -
DSM-IV)
TIÊU
CHUẨN CHẨN ĐOÁN DSM-IV
Đặc tính cơ bản của rối
loạn tăng động giảm chú ư (ADHD) là một mô
h́nh hằng định bao gồm sự giảm chú ư (inattention)
và/hoặc trạng thái tăng động bồng bột
(hyperactivity-impulsivity) xảy ra ở mức độ
thường xuyên hơn và nghiêm trọng hơn những ǵ
được thấy ở các cá nhân có cùng tŕnh độ
phát triển (Tiêu chuẩn A). Một số triệu
chứng tăng động hoặc giảm chú ư gây nên
suy kém chức năng được thấy trước 7
tuổi, mặc dù nhiều trẻ được chẩn
đoán sau khi các triệu chứng đă hiện diện
trong nhiều năm (Tiêu chuẩn B). Một số t́nh
trạng mất chức năng (impairment) phải
tồn tại ít nhất trong hai môi trường sống
khác nhau (ở nhà, ở trường học, hoặc nơi
làm việc) (Tiêu chuẩn C). Phải có bằng chứng rơ
ràng về việc các t́nh trạng này đă ảnh hưởng
đến các chức năng về xă hội, học
tập hoặc làm việc tương ứng với
mức độ phát triển của trẻ (Tiêu chuẩn
D). Rối loạn này không xảy ra trong quá tŕnh rối
loạn phát triển lan tỏa (pervasive developmental disorder),
tâm thần phân liệt (schizophrenia) hoặc các
chứng loạn tâm khác, và không nên được
giải thích là do một rối loạn tâm thần khác như
rối loạn khí sắc (mood disorder), rối loạn
lo âu (anxiety disorder), rối loạn phân ly (dissociative
disorder) hoặc rối loạn nhân cách (personality
disorder) (Tiêu chuẩn E).
Sự giảm chú ư có thể được
biểu hiện trong học tập, trong làm việc,
hoặc trong các t́nh huống xă hội. Những người
có rối loạn này có thể thất bại trong
việc phải tập trung chú ư nhiều vào các chi
tiết hoặc có thể phạm phải những lỗi
lầm do bất cẩn trong học tập cũng như
trong các công việc khác (Tiêu chuẩn A1a). Công việc thường
là bề bộn và được thực hiện một
cách bất cẩn, không suy tính. Trẻ thường
thấy khó khăn trong việc duy tŕ sự chú ư đến
công việc hoặc các hoạt động chơi, và
thấy khó theo đuổi công việc cho đến khi hoàn
tất (Tiêu chuẩn A1b). Trẻ thường biểu
hiện như thể đang đặt tâm trí ở đâu
đâu hoặc như thể chẳng nghe thấy những
ǵ người khác nói (Tiêu chuẩn A1c). Trẻ có thể
thường xuyên chuyển từ một công việc chưa
hoàn tất sang làm một công việc khác. Những
trẻ được chẩn đoán là có rối
loạn này thường chuyển đổi hết
việc nọ sang việc kia mà chẳng làm xong một
việc nào cả. Trẻ thường không tuân theo
những yêu cầu, chỉ dẫn và không thể hoàn
tất các bài tập ở trường, công việc nhà,
cùng những trách nhiệm khác (Tiêu chuẩn A1d). Thất
bại trong việc hoàn tất công việc nên được
xem xét đến khi chẩn đoán chỉ khi t́nh
trạng này là do sự giảm chú ư mà không giải thích
được bằng các lư do khác (chẳng hạn như
khi trẻ không hiểu được các hướng
dẫn). Những trẻ này thường gặp khó khăn
trong việc tổ chức các công việc và các hoạt
động (Tiêu chuẩn A1e). Những công việc đ̣i
hỏi duy tŕ những cố gắng về tinh thần cũng
được trẻ cảm thấy khó chịu và
chẳng thích thú ǵ. Kết quả là những trẻ này
thường đặc biệt tránh né hoặc không thích
những hoạt động nào đ̣i hỏi khả năng
vận dụng sáng tạo và cố gắng tinh thần
hoặc những việc cần đến khả năng
tổ chức hoặc tập trung chú ư cao (như công
việc viết lách, làm bài tập ở nhà...) (Tiêu
chuẩn A1f). Sự tránh né này phải là do những khó khăn
của đương sự về khả năng chú ư,
chứ không phải do một thái độ chống đối
nguyên phát (primary oppositional attitude), mặc dù sự
chống đối thứ phát (secondary oppositionism) cũng
có thể xảy ra. Các thói quen làm việc thường
bị rối loạn và những vật liệu cần
thiết để làm việc cũng thường bị
để rơi văi, thất lạc, sử dụng một
cách bất cẩn, hoặc bị làm cho hư hỏng (Tiêu
chuẩn A1g). Những trẻ này thường dễ
trở nên xao lăng bởi những kích thích không đáng và
thường gián đoạn những công việc đang làm
để chú ư đến những tiếng động
hoặc những sự việc tầm thường mà
những người khác thường dễ dàng bỏ qua
(như tiếng c̣i xe, hoặc tiếng người khác nói
chuyện) (Tiêu chuẩn A1h). Trẻ cũng thường hay
quên các công việc hằng ngày (thất hẹn, quên ăn
trưa...) (Tiêu chuẩn A1i). Trong các t́nh huống xă
hội, sự giảm chú ư c̣n có thể được
biểu hiện dưới dạng thường xuyên thay
đổi đề tài khi nói chuyện, không lắng nghe
người khác, không để tâm vào cuộc hội
thoại, hoặc không tuân theo các chi tiết và luật
lệ của các tṛ chơi và các hoạt động.
Trạng thái lăng xăng tăng động
có thể được biểu hiện bởi sự
bồn chồn hoặc uốn éo người khi ngồi
(Tiêu chuẩn A2a), ngồi không yên (Tiêu chuẩn A2b),
chạy nhảy quá đáng trong những t́nh huống không
thích hợp (Tiêu chuẩn A2c), khó khăn khi chơi
hoặc tham gia vào những hoạt động chơi có tính
tĩnh lặng (Tiêu chuẩn A2d), dường như lúc nào
cũng di chuyển (“on the go”) hoặc như thể
đang “ngồi lái môtô” (Tiêu chuẩn A2e), hoặc nói
quá nhiều (Tiêu chuẩn A2f). Sự tăng động có
thể thay đổi tùy theo tuổi và mức độ
phát triển của đứa trẻ, và việc chẩn
đoán nên được thiết lập một cách
thận trọng ở những trẻ nhỏ. Những
trẻ biết đi chập chững hoặc trẻ chưa
đến tuổi đi học bị rối loạn này có
biểu hiện khác biệt với những trẻ nhỏ
tăng động b́nh thường: trẻ thường
xuyên di chuyển và xen vào mọi chuyện1;
trẻ thường chồm tới chồm lui, “lao ra
khỏi nhà khi chưa kịp mặc áo”, leo trèo hoặc
chạy nhảy trên bàn ghế, chạy quanh khắp nhà, khó
tham gia vào một sinh hoạt nhóm của các trẻ nhỏ
phải ngồi yên một chỗ (như ngồi nghe
kể chuyện). Những trẻ ở tuổi đến
trường biểu hiện những hành vi tương
tự nhưng với mức độ ít hơn và ít thường
xuyên hơn những trẻ nhỏ. Trẻ thường
thấy khó khăn khi phải ngồi yên, thường xuyên
đứng dậy, uốn éo người hoặc đu
đưa người trên mép ghế. Trẻ không
ngừng máy mó đồ vật, đập tay, đung
đưa chân một cách quá đáng. Trẻ thường
rời khỏi bàn ăn đang trong khi dùng bữa, bỏ
đi khi đang xem ti vi, hoặc trong khi đang làm bài
tập ở nhà; và trong khi làm những công việc tĩnh
lặng, trẻ cũng thường gây nên những
tiếng động ồn ào. Ở tuổi thiếu niên và
người lớn, triệu chứng tăng động có
thể biểu hiện dưới h́nh thức những
cảm giác không yên hoặc khó tham gia các hoạt động
có tính chất tĩnh tại.
Tính bốc đồng, bồng bột (impulsitivity)
thể hiện qua sự mất kiên nhẫn, khó kềm
chế các đáp ứng, buộc miệng trả lời
trước khi người khác kết thúc câu hỏi (Tiêu
chuẩn A2g), khó chờ đợi đến phiên ḿnh (Tiêu
chuẩn A2h), thường ngắt lời hoặc quấy
rầy người khác đến mức gây ra những khó
khăn trong các môi trường xă hội, học tập và
làm việc (Tiêu chuẩn A2i). Những người khác có
thể than phiền rằng họ không thể nói xen vào
một lời nào. Những người có rối loạn
này đặc biệt hay đưa ra những lời b́nh
luận khi chưa đến phiên ḿnh, không thể
lắng nghe những chỉ dẫn, mở đầu câu
chuyện không đúng lúc, gián đoạn công việc người
khác một cách quá mức, quấy rầy người khác,
đoạt lấy đồ vật từ người khác,
đụng chạm những đồ vật mà họ không
được phép đụng đến, và hay “làm
hề”. Tính lăng xăng bồng bột cũng thường
dẫn đến những tai nạn (đánh cắp đồ
vật, đánh người, vồ phải một
chiếc chảo nóng...) hoặc dấn ḿnh vào những
hoạt động nguy hiểm không kể đến
hậu quả (ví dụ trượt tuyết trên một
địa h́nh quá ghồ ghề).
Các biểu hiện hành vi thường
xuất hiện trong nhiều hoàn cảnh, bao gồm ở
nhà, ở trường, trong công việc và trong các t́nh
huống xă hội. Để thiết lập một
chẩn đoán, các t́nh trạng kém chức năng
phải hiện diện trong ít nhất hai hoàn cảnh môi
trường khác nhau (Tiêu chuẩn C). Sẽ là điều
không b́nh thường khi một người biểu
hiện cùng một mức độ kém chức năng
trong tất cả mọi hoàn cảnh môi trường
hoặc trong cùng một môi trường ở mọi
thời điểm khác nhau. Các triệu chứng đặc
biệt trở nên xấu hơn trong những t́nh huống
cần phải duy tŕ sự chú ư hoặc các cố
gắng tinh thần hoặc trong các t́nh huống không có tính
mới lạ hoặc lôi cuốn. (ví dụ lắng nghe giáo
viên giảng bài, làm các nhiệm vụ được phân
công trong lớp học, nghe hoặc đọc những bài
viết quá dài, hoặc làm các công việc đơn điệu,
lập đi lập lại). Những dấu hiệu
của rối loạn này có thể ít biểu hiện
hoặc không có ở những đối tượng
được kiểm soát chặt chẽ, hoặc trong
một môi trường mới mẻ, tham gia trong những
hoạt động đặc biệt lư thú, trong t́nh
huống tiếp xúc “một-một” (như trong pḥng khám
của bác sĩ), hoặc khi đương sự trải
nghiệm được những khen thưởng thường
xuyên do làm được những hành vi thích đáng. Các
triệu chứng thường dễ xảy ra hơn trong
những t́nh huống ở trong nhóm (ví dụ trong các nhóm
chơi, trong lớp học, trong môi trường làm
việc). Thầy thuốc, v́ vậy, nên thẩm tra về
những hành vi của đương sự trong nhiều t́nh
huống khác nhau trong từng môi trường sống.
CÁC
PHÂN NHÓM
Mặc dù hầu hết những người
có rối loạn này đều thể hiện cả
sự giảm chú ư lẫn sự lăng xăng tăng
động, cũng có một số người chỉ
biểu hiện trội ở một trong hai loại
triệu chứng này. Các phân nhóm phù hợp nên được
dùng để chẩn đoán dựa vào mô h́nh biểu
hiện nào là trội qua thời gian 6 tháng vừa trải
qua.
314.04
Rối loạn tăng động giảm chú ư - Dạng
phối hợp
Phân nhóm này nên được dùng nếu có
ít nhất 6 triệu chứng giảm chú ư hoặc ít
nhất 6 triệu chứng tăng động bồng
bột tồn tại trong một thời gian ít nhất là
6 tháng. Hầu hết những trẻ em và thiếu niên có
rối loạn này đều thuộc dạng phối
hợp. Người ta chưa biết ở người
lớn có t́nh trạng tương tự như vậy hay
không.
314.00
Rối loạn tăng động giảm chú ư - Dạng
trội về giảm chú ư
Phân nhóm này nên được sử
dụng khi có ít nhất 6 triệu chứng giảm chú ư
(nhưng có ít hơn 6 triệu chứng về tăng động
bồng bột) tồn tại trong một thời gian ít
nhất là 6 tháng.
314.01
Rối loạn tăng động giảm chú ư - Dạng
trội về tăng động bồng bột
Phân nhóm này nên được sử
dụng khi có ít nhất 6 triệu chứng về tăng
động bồng bột (nhưng có chưa đến 6
triệu chứng về giảm chú ư) tồn tại trong
thời gian ít nhất là 6 tháng. Sự giảm chú ư có
thể vẫn c̣n là một đặc tính lâm sàng rơ
rệt trong những trường hợp như thế.
CÁC
PHƯƠNG PHÁP GHI NHẬN
Những người bị rối loạn này
mà giai đoạn đầu có biểu hiện thuộc
loại trội về giảm chú ư hoặc trội về
tăng động bồng bột đều có thể
tiếp tục phát triển để về sau trở thành
dạng phối hợp và ngược lại. Nên sử
dụng các phân nhóm thích hợp để chẩn đoán
dựa vào mô h́nh triệu chứng nào là trội trong
thời gian 6 tháng vừa qua. Nếu các triệu chứng lâm
sàng vẫn tồn tại nhưng không thỏa những tiêu
chuẩn chẩn đoán, việc định bệnh thích
hợp trong trường hợp này là rối loạn tăng
động giảm chú ư - dạng thuyên giảm một
phần (ADHD, In partial remission). Khi các triệu chứng
của đương sự không thỏa đầy đủ
các tiêu chuẩn để chẩn đoán loại rối
loạn này và không rơ là các tiêu chuẩn này trước
đó có được thỏa hay không, nên chẩn đoán
là ADHD không đặc hiệu (ADHD not otherwise specified).
CÁC
ĐẶC ĐIỂM VÀ RỐI LOẠN KÈM THEO
Các
đặc điểm và rối loạn tâm thần kèm
theo
Các đặc điểm kèm theo theo đổi
tùy theo tuổi và mức độ phát triển và có
thể gồm khả năng dung nạp kém với sự
hụt hẫng, những cơn giận dữ, thích ra
lệnh, bướng bĩnh, thường xuyên khăng khăng
đ̣i hỏi thỏa măn những yêu cầu, khí sắc
bất ổn định, sa ngă về đạo đức,
dysphoria, bị các bạn cùng tuổi “tẩy chay”, và ḷng
tự trọng yếu kém. Thành quả học tập thường
thấp kém, đặc biệt dẫn đương
sự đến chỗ mâu thuẫn với gia đ́nh và
nhà trường. Thiếu sáng tạo trong những công
việc đ̣i hỏi sự cố gắng thường
xuyên khiến người khác đánh giá đương
sự là lười biếng, vô trách nhiệm và có hành
vi chống đối. Các mối quan hệ trong gia đ́nh
thường được đặc trưng bởi
sự giận hờn và chống đối, đặc
biệt do các triệu chứng của đương
sự hay thay đổi khiến cho cha mẹ tin rằng
tất cả những hành vi có tính “gây rối” này là
do đương sự cố ư. Những người
bị ADHD có thể có những thành quả học tập
kém hơn và khả năng nghề nghiệp yếu hơn
những người cùng tuổi. Sự phát triển trí
thông minh, được đánh giá bằng các trắc
nghiệm IQ cá nhân, ở những trẻ bị rối
loạn dường như cũng thấp hơn. Trong trường
hợp nghiêm trọng, t́nh trạng rối loạn gây nên
suy giảm chức năng rất nhiều, ảnh hưởng
đến khả năng thích nghi với xă hội, gia
đ́nh và nhà trường. Một tỷ lệ quan
trọng những trẻ bị ADHD được
đưa đến các cơ sở trị liệu cũng
có kèm theo rối loạn bướng bỉnh chống
đối (oppositional defiant disorder) hoặc rối
loạn ứng xử (conduct disorder). Có thể có
sự gia tăng lưu hành độ của các rối
loạn khí sắc (mood disorder), rối loạn lo âu (anxiety
disorder), các rối loạn về học tập (learning
disorders) và rối loạn về giao tiếp (communication
disorders) ở những trẻ bị ADHD. Rối loạn
này cũng không phải là không thường thấy ở
những người bị rối loạn Tourette’s; khi có
hai loại rối loạn cùng tồn tại, giai đoạn
khởi đầu của ADHD thường đi trước
giai đoạn khởi đầu của rối loạn
Tourette’s. Cũng có thể có một tiền sử bị
lạm dụng hoặc bỏ rơi (child abuse or neglect),
t́nh trạng nuôi dưỡng bởi nhiều người
nhiều nơi khác nhau (multiple foster placement), tiếp xúc
với độc chất (vd, ngộ độc ch́),
nhiễm trùng (như viêm năo), mẹ dùng thuốc khi mang
thai, cân nặng thấp lúc sinh và t́nh trạng chậm phát
triển trí tuệ.
Các
phát hiện cận lâm sàng kèm theo
Không có xét nghiệm cận lâm sàng nào
được dùng để chẩn đoán trong việc
đánh giá lâm sàng t́nh trạng ADHD. Những trắc
nghiệm đ̣i hỏi việc xử lư thông qua các
cố gắng tinh thần đă ghi nhận sự bất
thường ở những người bị ADHD so
với nhóm đối chứng, nhưng người ta chưa
hoàn toàn biết rơ đâu là khiếm khuyết nhận
thức cơ bản có trách nhiệm về t́nh trạng này.
Các
phát hiện thực thể kèm theo và t́nh trạng y khoa
tổng quát
Không có đặc điểm thực
thể đặc hiệu nào kèm theo ADHD, mặc dù
những bất thường thực thể không quan
trọng như (hypertelorism), ṿm khẩu nhô cao, tai
đóng thấp... có thể hiện diện với tỷ
lệ cao hơn so với dân số chung. Các chấn thương
thực thể cũng có thể có tỷ lệ cao hơn.
CÁC
ĐẶC ĐIỂM ĐẶC HIỆU VỀ VĂN HÓA,
TUỔI VÀ GIỚI TÍNH
ADHD được biết là xảy ra trong
mọi nền văn hóa, với các lưu hành độ
khác nhau được báo cáo ở các nước phương
Tây, điều này có lẽ do việc áp dụng các tiêu
chuẩn chẩn đoán khác nhau hơn là do sự khác
biệt về biểu hiện lâm sàng.
Việc chẩn đoán đặc biệt
khó thực hiện ở trẻ em nhỏ hơn 4-5
tuổi, bởi v́ hành vi đặc trưng của chúng
rất hay thay đổi nhiều hơn so với trẻ
lớn, và có thể gồm những nét tương tự
như các triệu chứng của ADHD. Hơn nữa,
triệu chứng giảm chú ư ở trẻ chưa đến
tuổi đi học thường ít được quan sát
thấy bởi những trẻ nhỏ ở tuổi này thường
không được đ̣i hỏi phải chú ư nhiều.
Tuy vậy, khả năng chú ư của những trẻ
nhỏ cũng có thể được đánh giá; ví
dụ ở khoảng 2-3 tuổi trẻ đă có thể cùng
ngồi với một người lớn và xem một
quyển sách h́nh. Ngược lại, trẻ nhỏ có t́nh
trạng ADHD thường tăng động quá mức và
khó có thể kềm chế được. Xem xét một
số lớn các hành vi ở trẻ nhỏ có thể có
ích để bảo đảm ghi nhận được
một bức tranh lâm sàng đầy đủ. Khi trẻ
trưởng thành, các triệu chứng thường
trở nên ít rơ ràng hơn. Cho đến khoảng
cuối thời ấu thơ và đầu tuổi
thiếu niên, các dấu hiệu quá mức về vận
động thô sơ (gross motor) (ví dụ chạy
nhảy, leo trèo quá mức, không ngồi yên được)
sẽ ít xảy ra hơn, và các triệu chứng tăng
động có thể được xác định
bởi sự bồn chồn hoặc một cảm giác
nội tâm xáo động không yên. Ở trẻ em lứa
tuổi đi học, sự giảm chú ư sẽ ảnh hưởng
đến khả năng học tập ở trường.
Các biểu hiện tăng động lăng xăng cũng
dẫn đến sự phá vỡ những luật lệ
trong gia đ́nh, trường học và trong các quan hệ xă
hội, đặc biệt là ở tuổi thiếu niên.
Ở người lớn, trạng thái bồn chồn không
yên dẫn đến việc khó tham gia vào các hoạt
động tĩnh tại và tránh né các thú vui cũng như
các công việc làm hạn chế những cơ hội cho
các động tác tự nhiên (ví dụ: công việc
ngồi ở bàn giấy).
Rối loạn này thường thấy
ở phái nam nhiều hơn nữ, với tỷ lệ nam
: nữ thay đổi từ 4:1 đến 9:1 tùy hoàn
cảnh môi trường (vd. trong dân số chung hoặc
trong các bệnh viện).
LƯU
HÀNH ĐỘ (PREVALENCE)
Lưu hành độ của ADHD được
ước tính khoảng 3-5% trẻ em tuổi đi
học. Ở thiếu niên và người lớn, các
số liệu c̣n hạn chế.
DIỄN
TIẾN
Hầu hết các bậc phụ huynh đều
quan sát thấy những hoạt động vận động
quá mức của trẻ lần đầu tiên khi trẻ
mới biết đi, trùng hợp với thời điểm
phát triển khả năng vận động độc
lập. Tuy nhiên, v́ có rất nhiều trẻ nhỏ tăng
động không phát triển t́nh trạng ADHD về sau nên
việc chẩn đoán ADHD phải hết sức thận
trọng vào những năm đầu đời. Thường
th́ rối loạn này được chẩn đoán đầu
tiên vào thời gian trẻ học tiểu học, khi mà
khả năng thích nghi với trường học bị
phương hại. Trong phần lớn các trường
hợp được thấy ở các cơ sở lâm sàng,
t́nh trạng rối loạn tương đối ổn
định suốt thời gian đầu của tuổi
thiếu niên. Trong hầu hết trường hợp, các
triệu chứng giảm bớt đi vào cuối tuổi
thiếu niên và khi trở thành người lớn, dù
rằng có một ít vẫn c̣n đầy đủ
những triệu chứng của ADHD cho đến tuổi
trung niên. Ở một số người lớn chỉ c̣n
lại một vài triệu chứng, trong trường
hợp đó, chẩn đoán thích hợp nên sử
dụng là ADHD thuyên giảm một phần (ADHD, in partial
remission). Chẩn đoán này được áp dụng
cho những người không c̣n đầy đủ
những biểu hiện của rối loạn nhưng
vẫn c̣n một số triệu chứng và những
triệu chứng này vẫn gây nên t́nh trạng suy
giảm chức năng.
MÔ
H̀NH QUEN THUỘC
ADHD thường được thấy
nhiều hơn ở những người bà con cấp I
về sinh học (first degree biological relatives) của
những trẻ bị ADHD. Các nghiên cứu cho thấy
những rối loạn khí sắc và lo âu cũng có lưu
hành độ cao. Các rối loạn học tập,
rối loạn có liên quan đến hóa chất (substance-related
disorders), và rối loạn nhân cách chống đối
xă hội (antisocial personality disorder) trong các thành viên
gia đ́nh của người bị ADHD.
CHẨN
ĐOÁN PHÂN BIỆT
Ở trẻ nhỏ, có thể khó phân
biệt các triệu chứng của ADHD với những hành
vi b́nh thường của những trẻ nhỏ tăng
động (như chạy nhảy, làm ồn...).
Các triệu chứng giảm chú ư cũng thường
gặp ở những trẻ có IQ thấp được
bố trí học trong những môi trường học
tập không phù hợp với khả năng thông minh
của trẻ. Những hành vi này phải được
phân biệt với các dấu hiệu tương tự
của trẻ bị ADHD. Ở trẻ chậm phát
triển trí tuệ, một chẩn đoán ADHD thêm vào
chỉ nên thiết lập khi mà t́nh trạng giảm chú
ư hoặc tăng động trở nên quá mức đối
với tuổi khôn (mental age) của trẻ. Giảm
chú ư cũng có thể xảy ra ở một trẻ
rất thông minh được bố trí trong một môi trường
học tập “dưới ngưỡng” (understimulating
environment). ADHD cũng phải được phân
biệt với sự khó khăn trong việc định hướng
mục đích cho hành vi của những trẻ sống
trong môi trường thiếu thốn, hỗn độn và
vô tổ chức. Thu thập báo cáo từ nhiều
nguồn thông tin (cô giữ trẻ, ông bà, cha mẹ) có ích
trong việc phối hợp quan sát t́nh trạng giảm chú
ư, tăng động cùng khả năng phát triển
của đứa trẻ tương ứng với sự
tự điều chỉnh trong các môi trường khác
nhau.
Những trẻ có hành vi chống đối
có thể từ chối những công việc và bài
học ở trường đ̣i hỏi sự vận
dụng sáng tạo bởi trẻ thiếu khả năng
đáp ứng các yêu cầu của người khác.
Những triệu chứng này cũng phải phân biệt
với sự tránh né công việc học tập ở trường,
một điều thường gặp ở trẻ bị
ADHD. Sự phức tạp trong chẩn đoán phân biệt
là ở chỗ khi người bị ADHD phát sinh một thái
độ chống đối thứ phát đối
với những công việc như thế và đánh giá
thấp tầm quan trọng của chúng, thường như
một lư giải cho sự thất bại của họ.
|
A.
Có tiêu chuẩn (1) hoặc (2)
(1)
Trong số các triệu chứng
giảm chú ư
sau đây, có ít nhất 6
triệu chứng tồn tại trong thời gian ít
nhất là 6 tháng, đến độ không thích nghi và
không phù hợp với tŕnh độ phát triển:
Giảm
chú ư
(a)
Thường không thể tập trung chú ư nhiều vào
các chi tiết hoặc phạm phải những lỗi
lầm do bất cẩn trong học tập, làm
việc hoặc trong các hoạt động khác.
(b)
Thường khó khăn trong việc duy tŕ khả năng
chú ư trong công việc hoặc trong vui chơi.
(c)
Thường có vẻ không lắng nghe người khác
nói chuyện trực tiếp.
(d)
Thường không tuân theo những hướng dẫn
hoặc không thể hoàn tất bài vở ở trường,
công việc nhà, hoặc các trách nhiệm nơi làm
việc (không phải do hành vi chống đối
hoặc không có khả năng hiểu những hướng
dẫn).
(e)
Thường khó khăn khi tổ chức các công
việc và các hoạt động.
(f)
Thường né tránh, không thích, hoặc miễn cưỡng
tham gia các công việc đ̣i hỏi sự cố
gắng tinh thần liên tục (như làm bài tập
ở trường hoặc bài tập về nhà).
(g)
Thường để thất lạc những vật
dụng cần để làm việc hoặc vui chơi
(đồ chơi, dụng cụ học tập, bút ch́,
sách vở, và các dụng cụ).
(h)
Thường dễ dàng bị chia trí bởi các kích
thích bên ngoài.
(i)
Thường quên làm các công việc hằng ngày.
(2)
Trong số các triệu chứng
tăng động - bồng bột
sau đây, có ít nhất 6
triệu chứng tồn tại trong thời gian ít
nhất là 6 tháng, đến độ không thích nghi và
không phù hợp với tŕnh độ phát triển:
Tăng
động
(a)
Tay chân ngọ nguậy, ngồi không yên.
(b)
Thường rời bỏ chỗ ngồi trong lớp
học hoặc trong các t́nh huống đ̣i hỏi
phải ngồi yên.
(c)
Thường chạy nhảy hoặc leo trèo quá
mức trong những t́nh huống không thích hợp
(ở thiếu niên và người lớn, điều
này có thể giới hạn ở mức
đương sự có cảm giác bồn chồn
chủ quan).
(d)
Thường khó tham gia những tṛ chơi hoặc
hoạt động giải trí cần phải giữ
yên lặng.
(e)
Thường luôn di chuyển hoặc hành động
như thể “đang lái môtô”.
(f)
Thường nói quá nhiều.
Bồng
bột
(a)
Thường buột miệng trả lời khi người
khác chưa hỏi xong.
(b)
Thường khó chờ đợi đến phiên ḿnh.
(c)
Thường làm gián đoạn hoặc quấy
rầy người khác (xen vào các cuộc nói
chuyện hoặc các tṛ chơi).
B.
Một số triệu chứng tăng
động - bồng bột hoặc triệu chứng
giảm chú ư gây ra suy giảm chức năng
được thấy hiện diện trước 7
tuổi.
C.
T́nh trạng giảm chức năng
do các triệu chứng này được thấy
hiện diện trong ít nhất 2 môi trường khác
nhau (ở trường, ở nơi làm việc,
hoặc ở nhà). D. Phải có bằng chứng rơ ràng về t́nh trạng suy giảm chức năng đáng kể về lâm sàng được Không chẩn đoán là ADHD nếu các triệu chứng được giải thích bởi một rối loạn tâm thần khác (vd. rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn phân ly, rối loạn nhân cách, biến đổi nhân cách do bệnh lư y khoa, hoặc rối loạn liên quan hóa chất). Trong tất cả các rối loạn này, những triệu chứng giảm chú ư có thời điểm bắt đầu đặc hiệu là sau 7 tuổi, và bệnh sử thời thơ ấu về khả năng thích nghi với trường học thường không được đặc trưng bởi các hành vi gây rối (disruptive behavior) hoặc không có những than phiền của giáo viên về t́nh trạng giảm chú ư, và các hành vi tăng động, bồng bột. Khi rối loạn khí sắc hoặc lo âu cùng xảy ra đồng thời với ADHD, từng t́nh trạng nên được chẩn đoán riêng. ADHD không được ch6ản đoán khi các triệu chứng tăng động và giảm chú ư xảy ra trong thời gian diễn tiến của một rối loạn phát triển lan tỏa (pervasive developmental disorder) hoặc một t́nh trạng loạn tâm khác. Các triệu chứng giảm chú ư, tăng động, bồng bột liên quan đến việc sử dụng một dược chất (như thuốc giăn phế quản, isoniazide, akathisia lấy từ các neuroleptics) ở những trẻ dưới 7 tuổi không được chẩn đoán là ADHD, thay vào đó nên chẩn đoán là các rối loạn liên quan hóa chất không đặc hiệu (other substance-related disorders not otherwise specified). |