www.tamlytrilieu.com
KhỦng
hoẢng tâm lư (crisis)
Khái
niệm
về khủng hoảng:
Khủng hoảng là sự mất cân bằng giữa những yêu cầu do
một t́nh huống, một vấn đề đặc
biệt đặt ra và nguồn lực sẵn có để
giải quyết những nhu cầu đó. Khi
những
nguồn lực thông thường để giải
quyết t́nh huống yêu cầu không có tác dụng, và
những nỗ lực để làm giảm thiểu khó khăn
đó cũng không mang lại giá trị, (Bruce
Singh & Sidney Bloch) con người bước vào thời
kỳ khủng hoảng - thời kỳ xuất hiện mâu
thuẫn. Hay nói cách khác khủng hoảng là sự mâu
thuẫn bên trong giữa nhu cầu phát sinh trong một t́nh
huống xă hội mới (ví dụ: sự thay đổi:
t́nh trạng hôn nhân gia đ́nh, công việc, chức
vụ, mức lương, nơi ở, bạn bè, điều
kiện sống…, hay những mất mát, những may
mắn bất ngờ trong cuộc sống: trúng số...) và
năng lực thỏa măn nhu cầu ấy.
(theo Đ.B.Enconhin).
Những mâu
thuẫn bên trong tạo ra một t́nh trạng mất cân
bằng giữa lư trí và cảm xúc, những cảm xúc
đau khổ, bối rối, giận dữ, chênh vênh,
hoảng loạn…tràn ngập, xâm chiếm trong tâm trí,
đẩy lùi tính sáng suốt của lư trí, cá nhân
bị “ném xuống”, đẩy dồn vào và mắc
kẹt bởi một sự kiện có thể nhận
biết được cái mà lấn át, chôn vùi khả năng
ứng phó của cá nhân. Cá nhân hoàn toàn phải đối
mặt, chạm trán như một giai đoạn đau
khổ, buồn bă, song khủng hoảng là một phần
b́nh thường trong tiến tŕnh sống của con người
(Sharon L Johnson).
Tóm lại, trong phạm vi bài viết này,
khủng hoảng là một giai đoạn, xuất
hiện cấp thời, có diễn biến và kết thúc.
Khủng hoảng xuất hiện khi một sự kiện,
một t́nh huống xă hội tác động làm lất áp,
chôn vùi khả năng ứng phó của cá nhân, gây ra
sự mất cân bằng giữa giữa lư trí và t́nh
cảm, theo đó, yếu tố cảm xúc dâng cao,
kịch tích, đẩy lùi lư trí, tràn ngập trong tâm trí
của con người, che lấp tạm thời khả năng
giải quyết vấn đề bởi lư trí. Cá nhân hoàn
toàn phải đối mặt, chạm trán như một
giai đoạn đau khổ, buồn bă, song khủng
hoảng là một phần b́nh thường trong tiến tŕnh
sống của con người.
Diễn biến khủng hoảng
Diễn biến của một khủng hoảng có
thể được thể hiện qua sơ đồ
sau:
Sự biến đổi và
chuỗi diễn biến khủng hoảng
Giai đoạn I
Giai
đoạn II
Giai đoạn III
Giai đoạn IV
Sự va chạm
Rút lui. Thích ứng.
Sự tái thiếp lập.
Sự bối rối hỗn loạn
Sự tái ḥa hợp.

|
Diễn biến |
Giai đoạn I |
Giai đoạn II |
Giai đoạn III |
Giai đoạn IV |
|
Thời gian |
Giờ |
Ngày |
Tuần |
Tháng |
Đáp ứng
|
Tấn công (“ở lại” và
“chiến đấu” với vấn đề t́m ra
cách giải quyết) – lẩn trốn (bỏ
chạy và phớt lờ vấn đề). |
Giận dữ - Sợ hăi –
Mặc cảm tội lỗi – Thịnh nộ |
Bắt đầu những suy nghĩ
tích cực |
Hy vọng |
|
Suy nghĩ |
Tê liệt – Mất phương
hướng |
T́nh trạng mơ hồ, không
chắc chắn. |
Giải quyết vấn đề
|
Củng cố các vấn đề được
giải quyết |
|
Sự định hướng |
T́m kiếm mục tiêu bị
mất. T́nh trạng ngưng hoạt động
của thể thống nhất , tạo nên sự
rời ră thiếu gắn kết giữa các hệ
thống |
Mặc cả - t́nh trạng tách
rời, thờ ơ |
T́m kiếm mục tiêu mới |
Tái lập sự gắn kết |
|
Cách cư xử |
Sự hồi tưởng |
Làm rơ t́nh trạng phức
tạp, bối rối. |
Tập trung vào việc thăm ḍ,
khảo sát |
Thử nghiệm thực tế |
|
Hướng dẫn nhu cầu |
Sự chấp nhận của
cảm xúc |
Điều khiển nhiệm
vụ định hướng |
Sự hỗ trợ - bên trong tinh
thần. |
“Chọc thủng” tuyến pḥng
vệ - củng cố tăng cường hy vọng |
Các
thuật ngữ liên quan
Ngoài khủng
hoảng, th́ stress và sang chấn tâm lư (trauma) là những
khái niệm thường gặp. Các t́nh thế gây stress và
khủng hoảng nói chung đều giống nhau. Trong khi
stress
nhấn mạnh khả năng huy động các những
“tổ chức pḥng vệ”, “nguồn lực ứng phó”
để đương đầu và giải quyết trước
một t́nh huống khó khăn; th́
khủng
hoảng
nhấn mạnh đến sự thất
bại trong khả năng ứng phó, làm phát sinh một t́nh
trạng mất cân bằng tạm thời giữa lư trí và
cảm xúc. Trong điều kiện thông thường,
stress là một đáp ứng thích nghi b́nh thường
về mặt tâm lư sinh học và hành vi của cá nhân,
xuất hiện trên tất cả mọi người, luôn
tồn tại, diễn ra hằng ngày trong cuộc sống
ở dạng cấp tính hay dai dẳng, và khủng
hoảng th́ mang tính bước ngoặc quan trọng, đ̣i
hỏi cá nhân phải có những thay đổi thích nghi
ứng phó.
Các hoàn cảnh
gây stress, khủng hoảng đều có thể gây ra
một
sang chấn tâm lư
(trauma), khi hoàn cảnh, sự kiện ấy xuất
hiện đột ngột, cấp diễn, với cường
độ cao đe doạ an toàn tính mạng, sự toàn
vẹn của cá nhân và không thể kiểm soát như thiên
tai, tai nạn, chiến tranh, bạo lực, gây ra những
xáo trộn chức năng tâm lư. Sang chấn tâm lư
nhấn mạnh đến hậu quả để lại
của sự kiện: rối loạn hoạt động
chức năng. Cá nhân bị tác động mạnh
bởi những hồi
ức khiếp sợ (những “âm vang”, tái hiện
sự kiện sang chấn) hơn là bản thân sự
kiện gây sang chấn. Sau một sang chấn các rối
loạn tâm trí có thể diễn biến đến
mức trầm trọng thành các rối loạn stress
cấp (ASD) hoặc măn tính (rối loạn stress sau sang
chấn: PTSD)
Tuy nhiên sự phân
biệt này chỉ mang tính tương đối. Mặc dù
xét về bản chất, sự diễn biến và mức
độ biểu hiện và ư nghĩa của chúng có khác
biệt nhưng kết quả của những t́nh
trạng stress, khủng hoảng, sang chấn tâm lư… thường
đưa đến những đáp ứng tâm lư có
thể quan sát được khá tương đồng như:
cảm xúc trầm nổi bật (hoặc gia tăng
cảm xúc trong số ít trường hợp, hoặc
cảm xúc không ổn định lúc vui lúc buồn, cáu
giận vô cớ…) đó có thể là những cơn
buồn chán ngắn (blue) hay kéo dài dẫn đến các
rối loạn khí sắc (trầm cảm), t́nh trạng cơ
thể mệt mỏi căng thẳng do phải
đương đầu với những t́nh huống khó
khăn, t́nh trạng lo âu thường xuyên và trầm
trọng hơn với sự xuất hiện của các cơn
hoảng loạn (panic attack), chất lượng giấc
ngủ và ăn uống bị ảnh hưởng... và tùy
theo từng trường hợp cụ thể mà đôi khi
cần có sự can thiệp của hệ thống hỗ
trợ y khoa và tâm lư.
Các nhân tố của khủng
hoảng
Có 4 nhân tố
chung của khủng hoảng
1. Sự kiện nguy hiểm (hazardous event)
Sự kiện
nguy hiểm xảy ra bắt đầu bằng một
chuỗi những phản ứng lại các sự kiện
lên đến cao trào, đỉnh điểm trong cơn
khủng hoảng. Ví dụ: một người mẹ
trẻ chuẩn bị rất nhiều cho sự thăng
tiến nghề nghiệp của ḿnh th́ lại phát
hiện ḿnh có thai, một người đàn ông góa
vợ phải nuôi 5 đứa con nhỏ, mà lại
mất việc làm khi đang ở chức vụ
cao….Tất cả mọi người hầu như đều
có chung một đặc điểm: phải đối
mặt cùng lúc nhiều vấn đề khó khăn,
cần lựa chọn. Điều quan trọng đối
với mỗi người trong cơn khủng hoảng và
những người hỗ trợ nhận ra các sự
kiện đang đổ dồn, thúc đẩy họ.
2. T́nh trạng dễ tổn thương
(vulnerable state)
Con người
luôn rơi vào t́nh trạng dễ tổn thương khi
khủng hoảng diễn ra. Tính dễ bị tổn thương
ở họ xuất phát từ nhiều yếu tố (1) là
người hứng chịu những tác động
trực tiếp của những sự kiện gây khủng
hoảng, (2) thiếu mạng lưới hỗ trợ
hiệu quả, (3) có tiền sử chịu đựng
những sang chấn hay rối loạn cảm xúc…đồng
thời sức khỏe thể chất cũng ảnh hưởng
đến t́nh trạng của họ (mất ngủ,
bệnh cơ thể…)
3. Nhân tố thúc đẩy (precipitating
factor)
Nhân tố thúc
đẩy giống như “một giọt nước làm
tràn ly”. Một số người có vẻ như
kiềm nén rất tốt trong suốt thời gian của
sự mất mát to lớn hay nỗi đau khổ và sau
đó họ khụy ngă, suy sụp, tan vỡ. Đó là
một giọt nước làm tràn ly, những phản
ứng và khóc là t́nh trạng đáp ứng b́nh thường
cho những mất mát quá sâu.
4. T́nh trạng khủng hoảng tiến
triển (the state of active crisis)
Khi một người
không thể kiểm soát t́nh huống được
nữa, khủng hoảng sẽ tiến triển và phát
triển, 4 dấu hiệu của t́nh trạng này là:
(1). Sự
xuất hiện các triệu chứng về mặt tâm lư
học, thể chất hay cơ thể bao gồm: trầm
cảm, chứng đau đầu, lo âu, …một vài
sự bực dọc, khó chịu cực độ luôn luôn
hiện diện ở một số người.
(2). Sự
xuất hiện quan điểm về sự thất
bại và cơn hoảng loạn: một người có
thể cảm thấy rằng họ đă cố gắng
làm tất cả nhưng nó chẳng mang hiệu quả, và
không có điều ǵ thay đổi. V́ vậy họ
cảm thấy bất lực – thất bại, bị
“chôn vùi” và tuyệt vọng. Họ có hai cách đáp
ứng với t́nh trạng hiện thời: cách phản
ứng thứ nhất: họ trở nên kích động
trong các hành vi cư xử (hành vi tăng động: đứng
ngồi không yên, đi tới lui, uống rượu, dùng
thuốc, lái xe rất nhanh, gây hấn, gây chiến…), ngược
lại có một số người chọn cách phản
ứng thứ hai: trở nên thờ ơ, vô cảm, ví
dụ t́nh trạng ngủ nhiều (so với trước
đây hoặc so với nhu cầu).
(3). Việc
tập trung vào t́m kiếm sự giúp đỡ: “hăy
đưa tôi ra khỏi t́nh trạng này”. Họ mong
muốn được hỗ trợ để làm giảm
nhẹ nỗi đau của cơn khủng hoảng,
bởi họ không ở trong t́nh trạng, điều
kiện để giải quyết, xử lư các vấn
đề theo cách có lư trí. Đôi khi trong cơn khủng
hoảng có thể xuất hiện t́nh trạng trở nên
bàng hoàng, choáng váng, sững sờ, hay có những phản
ứng theo cách kỳ lạ, khó hiểu. Họ có thể
có chút điên rồ trong việc nỗ lực, quyết tâm
t́m kiếm sự giúp đỡ từ những người
khác, hay có thể trở nên phụ thuộc quá mức vào
một ai đó giúp đỡ họ thoát khỏi t́nh
trạng khó xử của ḿnh.
(4). Thời điểm
của việc giảm năng suất: Một người
đang trong cơn khủng hoảng tiến triển có
thể tiếp tục một cách b́nh thường các
hoạt động chức năng nhưng thay v́ đáp
ứng ở mức tuyệt đối, nó chỉ có
thể đáp ứng vào khoảng 60%. Một nguy cơ
lớn từ khả năng đánh giá, xác định t́nh
trạng hiện tại của bản thân, sự kém
hiệu quả trong nguồn lực ứng phó sẽ có
khả năng xảy ra, họ có thể nhận thức
được điều đó và chính điều này càng
làm họ chán nản, ngă ḷng.
Khả năng
nhận định, đánh giá hoàn cảnh, sự
kiện khách quan là một phần quan trọng trong
chuỗi diễn biến khủng hoảng. Sự nhận
định, đánh giá ấy ảnh hưởng lên cách
ứng phó của cá nhân đối với hoàn cảnh,
sự kiện. Mỗi người nhận thức về
một sự kiện theo cách riêng của ḿnh. Những
yếu tố niềm tin, ư kiến, sự mong đợi,
và nhận thức… tất cả kết hợp với
nhau trong cùng lúc để lượng giá t́nh huống
từ đó dẫn đến
khủng hoảng hay không khủng hoảng. Và điều
quan trọng là nó giúp con người có thể nh́n sự
kiện bằng đôi mắt khách quan. Cái chết của
một người bạn thân được xác
định từ một vài điểm như: sự thân
thiết trong mối quan hệ này là như thế nào,
họ có thường tiếp xúc, quan hệ với
những người khác như thế nào, và đă có
phản ứng như thế nào trước sự mất
mát ấy, đă từng trải qua những mất mát
gần đây như thế nào…Một góa phụ đă
nhận ra rằng việc mất mát người chồng
rất khác biệt với việc mất một người
bạn thân, một đồng nghiệp hay một người
chú của chồng cách đây năm năm.
Các nhân tố của sự cân
bằng và khủng hoảng
Các nhân tố cân
bằng có ư nghĩa quan trọng trong việc quyết
định nguy cơ khủng hoảng. Một vài người
cảm thấy sự kiện này sẽ không dẫn đến
khủng hoảng nếu họ không thiếu hụt
một hay nhiều nhân tố cân bằng trong cuộc
sống:
Sự nhận thức đầy
đủ và tương thích
Cách thức mà
vấn đề xuất hiện và ư nghĩa của nó
đối với cá nhân Vd: tan vỡ trong t́nh yêu, có
nhiều người cảm thấy rằng mất người
yêu là mất tất cả, là điều tồi tệ
nhất đến với họ, và có một số khác
lại cảm thấy đau buồn, nhưng đây là cơ
hội mới của họ…tuy nhiên không phải ai cũng
cảm thấy như nhau đối với cùng một
sự việc.
Hệ thống hỗ trợ
thích hợp
Bao gồm gia
đ́nh, các nhóm bạn bè, mối quan hệ họ hàng thân
thiết, các cơ quan … những hệ thống có
thể hỗ trợ, mạng lưới hỗ trợ chúng
ta trong suốt vấn đề.
Cơ chế ứng phó
Phần lớn
chúng ta thường dựa vào nhân tố này, nó bao
gồm: giải thích hợp lư, chối bỏ, t́m kiếm
những thông tin từ sách, báo, cầu nguyện, ….Tính
đa dạng, phong phú của các phương thức
ứng phó có thể làm giảm khả năng xuất
hiện khủng hoảng (hay kéo dài giai đoạn
khủng hoảng) ở cá nhân.
Khoảng thời gian giới
hạn tồn tại
Con người
không thể ở măi măi, lâu dài trong cơn khủng
hoảng. Tất cả đều phải hoàn tất,
đều phải được giải quyết, cơn
khủng hoảng chỉ có thể tồn tại, kéo dài
tối đa trong 6 tuần[1]. Sự cân bằng
về thể chất và tâm lư có thể khác biệt so
với trước đó nhưng ít nhất ra đó cũng
là sự cân bằng.
Trong một
số trường hợp có thể giúp cá nhân vượt
qua nỗi đau khủng hoảng bằng cách tạo ra các
động lực thay đổi một cách có ư nghĩa
trong cuộc sống của họ hoặc cá nhân có
thể lựa chọn cái chết nhằm tự kết thúc
nỗi đau.
Vai
tṛ của khủng hoảng
Khủng
hoảng là một bước ngoặc quyết định
sau một vấn đề hay một tiến tŕnh của
hành động phải tiếp diễn, hoặc phải
thay đổi hoặc hoàn tất, một thời điểm
mang tính chất quyết định quan trọng, một bước
chuyển. (Multimedia tool for buiding
mutilingual dictionaries, MTD 2002) Đây là thời điểm
của những tương tác bên trong con người
với mối nguy hại ở bên ngoài. Tương tác thành
công, con người vượt qua khủng hoảng, tái
thiết lập cân bằng, tích lũy thêm những kinh
nghiệm mới, làm giàu hệ
thống các nguồn lực ứng phó của bản
thân, h́nh thành thêm những cấu trúc tâm lư mới, hoàn
thiện các hoạt động chức năng (đặc
biệt sau những giai đoạn khủng hoảng
lứa tuổi),… Kết quả là giúp con người phát
triển, trưởng thành và ngày càng hoàn thiện hơn.
Và như vậy khủng hoảng mang những ư nghĩa tích
cực nhất định.
Trong cơn
khủng hoảng con người buộc phải đối
mặt, chịu đựng một sự mất cân
bằng rơ nét giữa lư trí – cảm xúc do những
sự kiện bên ngoài tác động. Những cảm xúc
(đau khổ, tuyệt vọng, giận dữ, …) làm choáng
hết tâm trí, con người không thể (hay gặp khó
khăn) trong việc xử lư t́nh huống, sự kiện
gây khủng hoảng một cách hiệu quả, sáng
suốt và điều này khiến họ cảm thấy
bối rối, chông chênh. V́ vậy, không phải tất
cả những khủng hoảng đều được
mong đợi.
Tuy nhiên, khủng hoảng không phải lúc nào cũng
tồi tệ. Đúng hơn là nó thể hiện một
thời điểm then chốt trong cuộc sống của
con người. V́ thế cho nên nó mang lại nhiều cơ
hội cũng như nhiều nguy hiểm. Khi một người
t́m kiếm những phương thức ứng phó cho riêng
ḿnh, họ có thể chọn lựa con đường
của sự hủy hoại nhưng họ cũng có
thể khám phá những thông tin và những phương
thức mới tốt hơn những phương thức
mà họ đă từng sử dụng và có giá trị.
Khủng hoảng về bản
chất là những phản ứng pḥng vệ tự nhiên
của con người trước sự xuất hiện
của những sự kiện (tiềm ẩn nguy cơ) khách
quan. Khủng hoảng bản thân nó không hàm ư tiêu cực
hay tích cực mà chính khả năng đương đầu,
thích nghi lựa chọn cách giải quyết khủng
hoảng của mỗi người đưa đến
những kết quả tích cực hay tiêu cực: chấp
nhận đối mặt, nỗ lực giải quyết
để thích nghi phát triển hay trốn tránh, lựa
chọn hành vi tiêu cực để thoát khỏi khủng
hoảng… Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi
cá nhân với nguồn lực ứng phó của riêng
của ḿnh.
Như vậy, khủng hoảng có ư nghĩa
đặc biệt quan trọng và cần thiết trong
tiến tŕnh phát triển của con người. Khi
khủng hoảng xuất hiện, một t́nh trạng nguy
hiểm được báo động nhưng một cơ
hội cho sự trưởng thành và hoàn thiện cũng
xuất hiện. Là nguy hại hay là cơ hội c̣n tùy
thuộc vào bản thân của mỗi cá nhân với
khả năng ứng phó riêng. Giải quyết khủng
hoảng bằng con đường h́nh thành những
mối quan hệ mới và các dạng hoạt động
mới. Giải quyết khủng hoảng – con người
cân bằng, bước sang một mức phát triển cao
hơn.
Phân loại khủng hoảng
Về tính
chất, khủng hoảng được chia làm hai
loại: các khủng hoảng luôn luôn xuất hiện trong
tiến tŕnh phát triển của con người, một
số có thể dự đoán trước bởi đó là
những cơn khủng hoảng lứa tuổi trong chu tŕnh
phát triển và một số ngẫu nhiên, không thể
dự đoán trước, xuất hiện bất ngờ
trong cuộc sống tùy thuộc vào hoàn cảnh sống và
khả năng thích nghi, đương đầu của
mỗi cá nhân, được gọi là cơn khủng
hoảng ngẫu nhiên
Khủng
hoảng lứa tuổi
Erik Erikson (1970), nhà tâm lư học đă đề cập đến các 8 giai đoạn phát triển ở một cá nhân và sự chuyển tiếp từ giai đoạn này sang giai đoạn kế tiếp được đánh dấu bằng sự xung đột và đấu tranh giải quyết những xung đột ấy hay nói cách khác sự xuất hiện của khủng hoảng và cách giải quyết chúng giúp con người bước sang một nấc thang phát triển mới, đánh dấu bằng việc h́nh thành những cấu trúc tâm lư mới, hoàn thiện các hoạt động chức năng. Erikson đă gọi những khủng hoảng xuất hiện trong các giai đoạn chuyển tiếp trong tiến tŕnh phát triển là khủng hoảng bản sắc (identity crisis) và tin rằng đây là một trong những xung đột quan trọng nhất của mà con người phải chạm trán trong quá tŕnh sống khi họ vượt qua 8 giai đoạn phát triển trong cuộc đời.
Sự phát triển tâm
lư xă hội của Erikson được mô tả qua 8 giai
đoạn phát triển xuyên suốt trong quá tŕnh phát
triển lành mạnh mà con người phải trải qua,
bắt đầu từ thời thơ ấu đến
tuổi trưởng thành. Trong mỗi giai đoạn phát
triển con người phải đương đầu,
và tự kiểm soát một cách đầy hy vọng,
với những thử thách mới. Mỗi giai đoạn
sau dựa vào nền tảng của việc những giai
đoạn trước được hoàn tất thành công.
Những thử thách của các giai đoạn trước
không được giải quyết hoàn tất, hay vượt
qua thành công có thể tái xuất hiện lần nữa như
một vấn đề, rắc rối trong tương
lai. Những nguồn lực hỗ trợ (bản thân, gia
đ́nh, nhà trường, xă hội) là quan trọng trong
việc đứa trẻ có thể vượt qua
khủng hoảng lứa tuổi và phát triển tốt hay
không? Một nguồn lực hỗ trợ lành mạnh,
hiệu quả giúp trẻ nhanh chóng vượt qua giai
đoạn khủng hoảng lứa tuổi (đặc
biệt là những năm tháng đầu đời),
tạo thành nền tảng vững chắc thúc đẩy
đứa trẻ trưởng thành nhanh hơn và ít
gặp khó khăn hơn trong việc vượt qua các giai
đoạn khủng hoảng sau này trong cuộc sống. Ngược
lại một đứa trẻ tự thân nó phải
đương đầu, vượt qua giai đoạn
đầy khó khăn này mà không có nguồn lực hỗ
trợ hiệu quả th́ các khủng hoảng lứa
tuổi có thể sẽ kết thúc muộn hơn. Đứa
trẻ phải “vất vả” bước vào giai đọan
sau, điều này gây ảnh hưởng đến quá tŕnh
trưởng thành hoàn thiện ở trẻ, và ảnh hưởng
đến khả năng vượt qua những giai đoạn
khủng hoảng khác trong
cuộc đời
của trẻ sau này.
Tính chất khủng hoảng trong các giai đoạn phát
triển là rất khác nhau và không xuất hiện như
nhau trên tất cả mọi người. Trong đó,
khủng hoảng ở lứa tuổi vị thành niên
được xem là quan trọng nhất, và diễn
biến kịch tích nhất. Bên cạnh đó với
một số người có giai đoạn chuyển
tiếp sang nấc thang phát triển mới khá êm ả,
với một số người th́ chỉ dừng
lại ở mức những xung đột rất
ngắn, và với một số người th́ đó
lại là cơn khủng hoảng tồi tệ… điều
này hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân con người
đó với khả năng ứng phó, kinh nghiệm, …và
các hệ thống hỗ trợ
từ gia đ́nh, xă hội…
Ngoài những cơn khủng
hoảng có thể dự báo trước, xuất hiện
trong tiến tŕnh phát triển tự nhiên, con người
c̣n gặp phải những cơn khủng hoảng khác
xuất hiện bất ngờ, đột ngột, không
hề được dự báo trong quá tŕnh sống
của ḿnh, và gọi đó là những cơn khủng
hoảng ngẫu nhiên.
Khủng
hoảng ngẫu nhiên
Gọi là cơn khủng hoảng ngẫu nhiên bởi nó
xuất hiện bất ngờ không hề được
dự báo trước, diễn biến trong một thời
gian tương đối ngắn và kết thúc. Cũng như
khủng hoảng lứa tuổi, cơn khủng hoảng này
kết thúc và “để lại” một kết quả
nhất định, giúp con người trưởng thành
hơn. Đó có thể là một trải nghiệm mới
với những kinh nghiệm, một kiểu ứng phó
mới, tiếp thu thêm những bài học mới về cách
tư duy, hành vi ứng xử, cảm xúc…
Cơn khủng hoảng ngẫu nhiên xuất hiện
bởi những sự kiện, những t́nh huống nguy cơ,
… luôn tiềm ẩn trong cuộc sống, trong suốt quá
tŕnh phát triển của mỗi người, và ai ai cũng
phải trải qua: một người thân trong gia đ́nh
đột ngột qua đời v́ tai nạn, được
thăng chức cao với đầy ắp những áp
lực công việc và trách nhiệm, ly hôn, thất
vọng v́ cuộc sống mới ở một môi trường
mới không như mong đợi…
Kết hợp
với tính chất của từng giai đoạn phát
triển cơn khủng hoảng ngẫu nhiên sẽ mang
những màu sắc khác nhau, với những những
diễn biến, và sự tác động khác nhau lên
một người, tạo nên bối cảnh khủng
hoảng của cá nhân trong thời điểm ấy. Ví
dụ: cơn khủng hoảng ngẫu nhiên xuất
hiện trong giai đoạn tuổi vị thành niên sẽ
khác hoàn toàn với lứa tuổi trung niên, về già
bởi sự kịch tính, thời gian kéo dài, và mức
độ tác động …Tuy nhiên điều này c̣n tùy
thuộc vào tính chất của sự kiện gây nên
khủng hoảng ở mỗi cá nhân khác nhau.
Với cùng một sự kiện, một t́nh huống
như nhau xuất hiện trong các giai đoạn phát
triển khác nhau được đánh giá khác nhau và có
nguy cơ gây ra khủng hoảng khác nhau. Ví dụ: cùng là
sự kiện người mẹ qua đời nhưng
ở lứa tuổi vị thành niên và nhỏ hơn đây
là khủng hoảng nặng nề, khó vượt qua trong
khi đó lứa tuổi trung niên lại dễ chấp
nhận hơn có thể do sự trưởng thành hơn
và việc dự đoán trước việc người
mẹ ra đi là một tất yếu của thời gian.
Bởi sự lượng giá khác nhau trong từng thời
điểm nên khi có cùng
một sự kiện, một t́nh huống gây khủng
hoảng như nhau xuất hiện lập lại trong
tiến tŕnh sống, th́ diễn biến của cơn
khủng hoảng có thể khác nhau với những cách
ứng phó khác nhau tùy thuộc vào tính chất giai đoạn
phát triển, nguồn lực hỗ trợ, kinh nghiệm
từng trải…Một ví dụ thường thấy là
sự mát mát những người thân trong gia đ́nh:
chẳng hạn như cái chết v́ bệnh ung thư di
truyền trong gia đ́nh những
cá nhân đều phản ứng khác nhau, những thế
hệ trong gia đ́nh cũng phản ứng khác nhau, và chính
bản thân cá nhân ấy cũng có những phản
ứng khác nhau khi họ c̣n là một đứa trẻ,
một người trưởng thành, trung niên và già đi.
Trong giai đoạn khủng hoảng lứa tuổi, có
sự xuất hiện của những sự kiện nguy cơ
lại càng làm gia tăng thêm sự kịch tính và kéo dài
cơn khủng hoảng. Vd: giai đoạn khủng
hoảng tuổi sơ sinh với sự kiện người
mẹ qua đời, giai đoạn khủng hoảng
tuổi vị thành niên đi kèm với sự xuất
hiện sự kiện người thân qua đời,
mất mát mối quan hệ giới tính đầu tiên,
tai nạn đưa đến những khiếm khuyết
cơ thể…
Kết quả của cơn khủng hoảng
Khủng
hoảng là một hiện tượng tự nhiên của
cuộc sống là bước ngoặc quan trọng cần
thiết xuất hiện, tồn tại trong tiến tŕnh
phát triển của con người, và tất cả
mọi người khi rơi vào khủng hoảng đều
có thể tự ḿnh giải quyết chúng với kinh
nghiệm, năng lực ứng phó, nguồn lực hỗ
trợ riêng vốn có mà đôi khi không nhất thiết
cần sự can thiệp của y khoa – tâm lư học. Bên
cạnh đó bởi tính chất cấp tính, khủng
hoảng xuất hiện khi sự kiện và t́nh huống
nguy cơ hiện diện – diễn biến – kết thúc
theo chuỗi diễn biến tự nhiên. V́ vậy có hay không
sự can thiệp th́ khủng hoảng tự bản thân nó
cũng kết thúc. Kết thúc chuỗi khủng hoảng
bằng việc con người thích ứng, t́m được
phương cách giải quyết vấn đề,
củng cố chúng, tái thiết lập sự gắn
kết, cân bằng, tích lũy thêm những kinh nghiệm
mới và “bước tiếp” trong cuộc sống.
Tuy nhiên, trong
một số trường hợp, khủng hoảng không
được vượt qua, con người mắc
kẹt lại lâu hơn ở một giai đoạn nào
đó (giai đoạn 1 & 2) và lựa chọn những cách
giải quyết khủng hoảng không phải bằng lư
trí mà chịu sự chi phối mạnh mẽ của
những cảm xúc tiêu cực (đau buồn, giận
dữ, mặc cảm...) đưa đến những
kết quả gây “nguy hiểm” cho bản thân và người
khác. Trong hai giai đoạn đầu của khủng
hoảng (đặc biệt là giai đoạn 2), những
cảm xúc ấy không ngừng “tấn công”, “chôn vùi”
họ trong đau khổ, tuyệt vọng, cảm giác
thất bại, mặc cảm tội lỗi… làm thúc
đẩy họ đi t́m cách “dẹp yên chúng”, “thoát
khỏi” hay “tự chữa lành” bằng việc
lạm dụng rượu, ma túy, ư định hoặc hành
vi tự sát (đưa đến cái chết), hay t́m đến
đức tin tôn giáo… Khủng hoảng kéo dài, t́nh
trạng mất cân bằng kéo dài gây nên những rối
loạn trong các hoạt động chức năng, ảnh
hưởng đến cuộc sống hiện tại, gia
đ́nh, công việc, các mối quan hệ trong xă
hội…, hậu quả là dẫn đến các rối
loạn: rối loạn thích ứng, rối loạn khí
sắc (thường gặp thể trầm cảm),….
Lúc này, cần
phải có sự can thiệp về mặt y khoa – tâm lư
học, nhằm giúp cá nhân vượt qua, hoàn tất giai
đoạn khủng hoảng, chữa lành những hậu
quả mà khủng hoảng để lại trong quá tŕnh
diễn biến của chúng (chứng nghiện rượu,
chất kích thích, điều trị các rối loạn).
Ư định –
hành vi tự sát là một trong những phương cách
được xem xét, lựa chọn trong quá tŕnh giải
quyết khủng hoảng. Nguy cơ tự sát thành công c̣n
tùy thuộc rất lớn vào nhân cách của mỗi cá nhân,
quan điểm, thói quen, sự “học hỏi”, lứa
tuổi phát triển, thời điểm xảy ra
khủng hoảng, hệ thống hỗ trợ, khả năng
ứng phó…và khả năng tái phát, tính “thuận
tiện, sẵn có” của các dụng cụ hỗ
trợ tự sát… Tự sát đem đến hậu
quả không thể khắc phục, người tự sát
thành công mang đến những mất mát, đau khổ
cho gia đ́nh, bạn bè. V́ vậy cần phát hiện và
can thiệp kịp thời nếu trong cơn khủng
hoảng có xuất hiện ư định hay hành vi tự sát.