www.tamlytrilieu.com

 

TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TÂM LƯ VÀ TỰ SÁT (II)

Cử nhân Tâm lư ÁI NGỌC PHÂN

 

 

Khái niỆM TỰ sÁt VÀ hành vi TỰ sÁt (suicide)

Tự sát, tự tử, tự vẫn hay tự kết liễu … đều là những từ ngữ chỉ chung một hiện tượng khi con người một cách có ư thức thực hiện hành vi tự gây ra cái chết cho bản thân ḿnh. “Đó là một sự lựa chọn: có chủ tâm suy nghĩ thận trọng, cố ư tự làm hại bản thân ḿnh. Là một hiện tượng có chủ tâm tự làm hại bản thân ḿnh và thường với mong muốn được chết”.

Hành vi tự sát là hành vi tự gây ra cái chết cho bàn thân một cách có ư thức.

Phân lọai tự sát

Về mặt ư nghĩa – mục đích của hành vi tự sát: Emil Durkheim, một nhà tâm lư học người Pháp (cuối thế kỷ 19), đă đưa ra 2 loại h́nh tự sát: tự sát vị kỷ (egoisitic suicide) và tự sát v́ ḷng vị tha (altruistic suicide).

Về mặt quy mô: tự tự tập thể và tự sát cá nhân.

Về các cấp độ: ư tưởng về cái chết, ư tưởng tự sát, kế hoạch tự sát hay c̣n gọi    mưu đồ tự sát, toan tự sát, tự sát tái phát, tự sát thành công.

Việc phân loại tự sát chỉ mang tính tương đối nhằm làm rơ hơn phạm trù rộng lớn này. Và tùy theo quan điểm của những nhà nghiên cứu tâm lư học, xă hội học… mà những phân loại này có thể thay đổi cho phù hợp trong quá tŕnh nghiên cứu phát triển. Trong phạm vị khóa luận này chỉ tập trung nghiên cứu trên khía cạnh tự sát vị kỷ (egoisitic suicide)

Một số thuật ngữ 

Xét về mức độ nguy hiểm (dựa trên nguy cơ được thực hiện và thực hiện thành công hành vi tự sát) ta cần phân biệt một số thuật ngữ sau:

Ø       Ư tưởng tự sát (suicide ideation) là ư tưởng xuất hiện thoáng qua trong suy nghĩ khi một người đang rơi vào vô vọng, bế tắc trong việc t́m kiếm phương cách giải quyết vấn đề khó khăn của ḿnh. Họ bắt đầu h́nh dung về cái cảm giác bản thân sẽ ra đi để được thoát khỏi t́nh trạng hiện tại như thế nào, hay cái chết sẽ giúp ích ǵ cho họ. Lúc này, những người thân xung quanh khó mà phát hiện ra được nếu bản thân họ không muốn chia sẻ hoặc đôi khi họ nói về cái chết như một lời than văn, hay nghe như một câu đùa: “thà chết c̣n hơn”, “chết c̣n sướng hơn”… Phần lớn những người này chỉ có ư tưởng tự sát mà chưa h́nh dung xem ḿnh sẽ tự sát như thế nào, và bằng cách nào? Tuy nhiên một số ít trong những người này bắt đầu lập kế hoạch tự sát cho ḿnh.

Ø       Kế hoạch tự sát hay mưu đồ tự sát (suicide plan) khi những ư tưởng tự sát h́nh thành, họ bắt đầu tiến sâu hơn nữa, một kế hoạch thực hiện ư tưởng tự sát bắt đầu h́nh thành trong tâm trí. Họ bắt đầu suy nghĩ, lựa chọn thậm chí t́m kiếm các cách khác nhau để thực hiện hành vi tự sát. Đây không chỉ đơn thuần là việc họ sẽ chết như thế nào, mà là cả một kế hoạch chi tiết được thực hiện trong tâm trí: lựa chọn địa điểm, thời gian, cách thức tiến hành, chuẩn bị dụng cụ, có những sắp xếp khá chu đáo về mặt công việc, gia đ́nh, bạn bè như một người sắp đi xa, trước khi tự sát, và chuẩn bị hết sức cẩn thận cho gia đ́nh, bạn bè những người họ đặc biệt quan tâm, có trách nhiệm (dặn ḍ con cái, để lại di chúc, thư từ…) sau khi bản thân chết. Đây là lúc mà những người thân có thể phát hiện ra bởi bản thân người có kế hoạch tự sát có những thay đổi lớn cả về cảm xúc lẫn trong hành vi cư xử, đặc biệt là qua các cuộc tṛ chuyện mang tính dặn ḍ, chia tay, những giả định về việc sắp đi xa trong các câu chuyện của họ, những bàn luận về cái chết về thế giới bên kia, một thế giới khác… và những vấn đề mà họ đặc biệt quan tâm t́m hiểu đa phần liên quan đến cái chết… 

Ø       Toan tự sát (suicide attemp, parasuicide) thực hiện các kế hoạch đă có trong tâm trí. Đây giống như một h́nh thức thử nghiệm trước khi đi vào thực hiện chính thức, họ cũng sẽ ở đúng địa điểm, thời gian đă lên kế hoạch, chuẩn bị đầy đủ những dụng cụ “hỗ trợ” và bắt đầu tiến hành hành vi tự sát như trong kế hoạch. Thông thường, ở phụ nữ những lần thử nghiệm- toan tự sát này xuất hiện nhiều lần trước khi đưa đến cái chết hơn là ở nam giới, v́ đa phần nam giới thường thành công ngay trong những lần thử nghiệm đầu tiên do những biện pháp mà họ lựa chọn có khả năng gây chết người (lethality). Tuy nhiên một hướng giải thích khác cho rằng, phái nữ thường cân nhắc suy nghĩ nhiều về các mối quan hệ, trách nhiệm của bản thân với người thân (cha mẹ, con cái…), những mối dây liên lạc t́nh cảm khác… nên ít quyết liệt hơn trong việc thực hiện hành vi tự sát. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa th́ việc phát hiện một người toan tự sát có ư nghĩa đặc biệt quan trọng v́ việc ấy có thể ngăn ngừa t́nh trạng xấu nhất (toan tự sát thành công) và có những hỗ trợ về y khoa kịp lúc, sự quan tâm, nâng đỡ và cả sự giám sát của người thân cũng sẽ làm cho người có ư định tự sát ngừng bước, xem xét lại quyết định của ḿnh, đồng thời ngăn chặn việc tái phát hành vi tử tử và thành công.

Ø       Xung động tự sát (suicide impulse)  ư tưởng tự sát thôi thúc xuất hiện tức thời và ngay sau đó là thực hiện hành vi, trong thời gian rất ngắn với khả năng thành công cao, bản thân họ mất khả năng ḱm hăm xung động thực hiện hành vi đó. Những xung động tự sát thường xuất phát từ những mâu thuẫn, xung đột kéo dài không thể giải quyết được tích lũy, nén chặt vào bên trong cho đến khi những mâu thuẫn, xung đột ấy lên đến cực điểm, họ bị dồn vào t́nh trạng bất an cực độ, những cảm xúc tiêu cực tràn ngập và ngay lập tức họ thực hiện nhanh chóng hành vi tự sát mà không cần lên kế hoạch hay chuẩn bị trước. Đây là xung động nguy hiểm v́ khả năng tự hủy hoại ḿnh (self-destructive) và tấn công người khác là rất cao do xuất phát từ trong những cảm xúc tiêu cực được nén chặt lâu ngày nay bùng phát dữ dội thông qua những hành vi, mà ngay tại thời điểm đó khả năng kiềm chế và lư trí của họ gần như bằng 0. Ví dụ: những trường hợp giết người rồi tự sát, như trường hợp cuộc thảm sát tại Trường Công nghệ Virginia Tech tại Mỹ.

Việc phân biệt các thuật ngữ này chỉ mang tính tương đối, và thường có ư nghĩa trong việc lượng giá mức độ cũng như t́nh trạng nguy hiểm của thân chủ cho việc can thiệp, và những hỗ trợ phù hợp, đảm bảo an toàn cho thân chủ (người tự sát) và người thân. Nhưng đôi khi khó mà khẳng định chắc chắn rằng một thân chủ mới có ư tưởng tự sát th́ ít nguy hiểm hơn là một thân chủ đă có kế hoạch tự sát hay toan tự sát. Thực tế cho thấy khi một người đă tự sát thành công th́ khó mà xác định được rằng họ đang trong cơn xung động tự sát, hay toan tự sát, và cho dù tự sát không thành th́ ư tưởng tự sát vẫn có thể xuất hiện trở lại. 

Nguyên nhân tự sát - Ư nghĩa tâm lư của hành vi tự sát

Con người là sự tổng ḥa giữa sinh lư, xă hội và tâm lư. Sự chi phối, tương tác lẫn nhau giữa những yếu tố ấy quy định nên hành vi của con người trong đó có hành vi tự sát. Khó mà có thể khẳng định hành vi tự sát ấy xuất phát từ những ảnh hưởng duy nhất của sinh học, xă hội, hay tâm lư, v́ vậy các nhà nghiên cứu đă xem xét hành vi ấy trên cả ba mặt tác động h́nh thành nên những yếu tố nguy cơ hay những yếu tố bảo vệ một người trước quyết định thực hiện hành vi tự sát.

Các yếu tố xă hội

Sự khác nhau về tỉ lệ tự sát ở các quốc gia thuộc các châu lục khác nhau, ở các vùng thuộc các khu vực khác nhau trên cùng một lănh thổ (thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền cao)… là dấu hiệu cho thấy tỉ lệ tự sát phần nào có liên quan đến các yếu tố xă hội – kinh tế - chính trị và văn hoá.

Sự thay đổi chế độ xă hội, sự bất ổn của t́nh h́nh kinh tế, an ninh, chính trị ở một quốc gia, các cuộc nội chiến, khủng hoảng kinh tế, khủng bố, việc di cư thay đổi môi trường xă hội …. luôn có những tác động nhất định đến đời sống tinh thần (và cả vật chất) của người dân – những người sẽ trực tiếp hứng chịu hậu quả của những biến động gây ra.

Tín ngưỡng tôn giáo được xem như là một trong những yếu tố có tính chi phối mạnh mẽ nhất và cũng khó lư giải nhất, niềm tin tôn giáo vừa được xem là một yếu tố nguy cơ nhưng cũng được đánh giá là yếu tố bảo vệ.

Bắt chước hay gặp ở những người trẻ tuổi. Trong số này tỉ lệ tự sát tăng lên khi họ theo gương những trường hợp tự sát trên phương tiện thông tin đại chúng.

Các yếu tố sinh học

Yếu tố di truyền trong tự sát được minh họa một cách rơ ràng trong gia đ́nh của Ernest Hemingway. Ngoài việc ông, bố ông, hai đứa con và cháu gái của ông ta cũng tự sát. Ở Mỹ và Đan Mạch là một ví dụ số người có quan hệ ruột thịt có tỉ lệ tự sát cao hơn những con nuôi. Tỉ lệ tự sát ở những cặp sinh đôi cùng trứng cao gấp 6 lần ở những cặp sinh đôi khác trứng.

Sự ảnh hưởng di truyền c̣n liên quan đến tính di truyền một số bệnh lư như bệnh tâm thần (trầm cảm, tâm thần phân liệt…) nghiện rượu, ma túy…

Yếu tố sinh hóa: các bất thường ở năo, đặc biệt là hệ Serotonin, đă được chứng minh có liên quan. Những người tự sát bằng các biện pháp bạo lực, bốc đồng như treo cổ, bắn vào ḿnh, nhảy từ trên cao xuống thường có sự giảm axít 5-hydroxy–indol–acetic-acid (5HIAA), một chất chuyển hóa của serotonin, trong dịch năo tủy.

Người ta cũng quan tâm đến sự giảm đáp ứng điện sinh lư trên da ở những người có hành vi tự sát. Phát hiện này phù hợp với sự quan sát những người tự cắt dứt da thịt ḿnh và thường nói rằng lúc đó họ không thấy đau (tuy nhiên nghiên cứu này chưa đề cập đến tác dụng của yếu tố tâm lư tại thời điểm đó)

Bệnh cơ thể là yếu tố đi kèm thường gặp của tự sát, sự kết hợp này đặc biệt mạnh ở những người trên 50 tuổi (nhóm tuổi bắt đầu xuất hiện nhiều các bệnh thực thể). Những người có nguy cơ cao là người nhiễm HIV/AIDS, bệnh ác tính (đặc biệt là vùng đầu và cổ), bệnh Hungtington, chấn thương cột sống, bệnh thận, và bệnh Lupus. Điều này đang dẫn đến một vấn đề đang gây tranh căi ở nhiều nước và cũng nhận được nhiều ư kiến khác nhau đó là an tử - cho phép bệnh nhân nan y thời kỳ cuối được chết êm ái.

Bệnh tâm thần: những người ở nhóm bệnh trầm cảm, lạm dụng rượu, ma túy, và tâm thần phân liệt đặc biệt có nguy cơ cao. Bệnh nhân tâm thần nh́n chung có nguy cơ tự sát cao gấp 10 lần so với nhóm người b́nh thường, mức độ nguy cơ c̣n phụ thuộc vào bản chất của bệnh.

Trầm cảm là t́nh trạng quan trọng nhất ảnh hưởng đến 2/3 các trường hợp tự sát. Tự sát thường xảy ra khi khởi phát, hoặc ngược lại, khi hết đợt trầm cảm là lúc mà người bệnh có nghị lực để hoạt động và sợ tái phát.

Tâm thần phân liệt với nguy cơ tự sát trong đời là 10%. Tự sát có thể là một đáp ứng với nội dung của một hoang tưởng hay một ảo giác nào đó, nhưng thường liên quan đến sự tan vỡ trong cuộc sống của những người trẻ tuổi (sự tái ḥa nhập lại với cuộc sống b́nh thường trong công việc cũng như các mối ràng buộc xă hội)

Lạm dụng rượu có tỉ lệ 3-4% trong cuộc đời, thường là do suy sụp cả thể chất và tinh thần sau nhiều năm. Tự sát có thể là sự đáp ứng đối với hiện tượng loạn thần trong giai đoạn ngộ độc hoặc cai rượu.

Rối loạn nhân cách là nhóm nguy cơ đặc biệt cao bởi xu hướng rối loạn trong các mối quan hệ cá nhân – xă hội – gia đ́nh, dễ bị những rối loạn khí sắc cấp tính và có những hành vi xung động bất thường. Tự sát và hành vi tự huỷ hoại như việc cắt đứt da thịt ḿnh… và tấn công người khác, là khả năng có thể xảy ra.

Sự đi kèm cùng lúc nhiều rối loạn (như trầm cảm đi kèm loạn thần, trầm cảm, lạm dụng rượu và các chất gây nghiện…) càng làm gia tăng nguy cơ tự sát.    

Các yếu tố tâm lư

Hành vi tự sát vị kỷ dù có chịu ảnh hưởng ít nhiều từ các yếu tố xă hội nhưng xét cho cùng hành vi ấy chỉ mang tính chất cá nhân. Những người có hành vi tự sát luôn có những lư do riêng xuất phát từ trong chính bản thân của nạn nhân và các mối quan hệ xă hội khác, có bằng cách nào hành vi tự sát được thực hiện th́ cũng mang những ư nghĩa riêng mà đôi khi chỉ có bản thân nạn nhân mới thấu hiểu.

Ư nghĩa tâm lư của hành vi tự sát

Một trong những loại hành vi tự sát được xem là một hành vi mang tính chất xung động nhằm tránh một t́nh huống gây nên khủng hoảng, một t́nh huống khó khăn không thể giải quyết, hay không thể chấp nhận nổi. Về mặt tâm lư hành vi tự sát mang nhiều ư nghĩa đa dạng, phức tạp và tùy thuộc vào bản thân của mỗi cá nhân. Cá nhân thực hiện hành vi tử tử mà người thân, gia đ́nh, bạn bè, những người xung quanh, BS, những nhà tâm lư học... hay chính bản thân người đó cho biết ư nghĩa hành vi của ḿnh, nhưng cũng có nhiều trường hợp thực hiện hành vi tự sát mà không ai có thể lư giải được, v́ vậy việc t́m hiểu ư nghĩa của hành vi tự sát phải tuỳ thuộc vào mỗi cá nhân cụ thể được đặt trong bối cảnh sống cụ thể. Có những hành vi không chỉ đơn thuần xuất phát từ những nguyên nhân đơn lẻ hay mang một ư nghĩa duy nhất, hành vi có thể là sự tổng hợp từ nhiều nguyên nhân, mang nhiều ư nghĩa phức tạp song song cùng tồn tại…Và cũng thật khó khăn để biết chính xác rằng có bao nhiêu hành vi tự sát có ư nghĩa đă được t́m thấy. Tuy nhiên, hành vi tự sát nh́n chung thường mang những ư nghĩa tâm lư như sau:

1)      Sự trốn chạy (Fuite): là một trong những biện pháp giải quyết khủng hoảng:  trốn chạy, bỏ chạy khỏi một t́nh huống xuất hiện, tồn tại mà bản thân không thể đương đầu, chấp nhận và thích nghi. Điều này c̣n tuỳ thuộc vào sự cảm nhận và ngưỡng giới hạn chịu đựng của mỗi người về t́nh huống phải đối mặt: là nghiêm trọng, khó khăn, không thể vượt qua hay đơn giản, có thể ứng phó so với t́nh huống khách quan trong thực tế.

2)      Sự tuyệt vọng (Désespoir): một trạng thái tinh thần suy sụp kèm theo khí sắc trầm: mất hy vọng vào hiện tại, niềm tin vào tương lai, không t́m được sự giúp đỡ từ những người khác, không có nguồn lực nâng đỡ tinh thần. Đây là  trạng thái  thường gặp ở những bệnh nhân nan y, ung thư giai đoạn cuối, HIV/AIDS…hay những người đang “mắc kẹt” trong những mâu thuẫn, xung đột nội tâm (con cái – t́nh trạng ly hôn…), những thất bại to lớn trước những điều đă từng được kỳ vọng làm họ sụp đổ, mất hết phương hướng (những kỳ vọng lớn cho sự nghiệp, hạnh phúc gia đ́nh…)… 

3)      Sự mất mát, nỗi đau tang tóc (Deuil): đây là một trong những “chấn thương”  to lớn nhất về tinh thần, đánh mất một cái ǵ đó có ư nghĩa to lớn trong đời sống t́nh cảm, sự tan vỡ, mất mát các mối quan hệ thân thiết gắn bó (những người thân, người yêu, vợ - chồng - con cái…), một cảm giác bất ngờ, hụt hẫng, giận dữ, mặc cả, cô đơn, như bị bỏ rơi lại … (chu tŕnh grief) khiến họ có khả năng nghĩ đến việc tự sát để giải thoát khỏi nỗi đau này, hay muốn “đi cùng” người ḿnh yêu thương. Tuy nhiên không phải với bất kỳ một sự mất mát người thân nào cũng gây ra những cảm xúc và suy nghĩ như trên, nó c̣n tùy thuộc vào từng cá nhân cụ thể, tùy thuộc vào tính chất mối quan hệ mất mát và sự cảm nhận, khả năng ứng phó cũng như khả năng vượt qua của từng cá nhân cụ thể với những nguồn lực hỗ trợ trên thực tế.

4)      Sự trừng phạt (Châtiment): sự tự trừng phạt bản thân, một mặc cảm tội lỗi và cho rằng chỉ có cái chết (hoặc tự nhận ḿnh đáng chết) mới đủ chuộc lại sai lầm của ḿnh. Tuy nhiên cần phải chú ư trong trường hợp này nạn nhân có thể là những người có vấn đề về tâm thần: hoang tưởng về một lỗi lầm không có thực…hoặc rơi vào lứa tuổi vị thành niên với những kỹ năng sống chưa vững vàng, dễ vấp ngă do thiếu kinh nghiệm và tự ti về năng lực bản thân trong các mối quan hệ bạn bè đồng trang lứa hay các anh chị em trong gia đ́nh.

5)      Hành vi tội ác (Crime): khi hành vi tự sát không chỉ nhằm tự hủy hoại bản thân mà c̣n hướng đến tấn công người khác, kéo theo nhiều người cùng chết: những h́nh thức lôi kéo, tạo ra những vụ tự sát tập thể, thảm sát (Nhật, Mỹ…), khủng bố đánh bom liều chết… 

6)      Cách giao tiếp gây sự chú ư, bày tỏ ư đồ (Communication de l’intention): nạn nhân lấy cái chết của ḿnh gây sức ép lớn và bày tỏ ư đồ mong muốn của bản thân một cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, nạn nhân thường là những người bất lực trong việc cố gắng giải quyết các mâu thuẫn, xung đột, thất bại trong việc giao tiếp, không được lắng nghe đáp ứng… và chọn cái chết để nói lên rằng chính người khác là nguyên nhân gây nên cái chết cho bản thân: cách đây không lâu một vụ án tự thiêu của một giáo viên bảo mẫu ở trường tư thục và cậu con trai 4 tuổi ở Q.9  trên căn gác gỗ sau nhiều lần không thể giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng, kết quả làm người chồng trở nên như điên dại đă khiến dư luận xôn xao (Báo Công An 22.03.2007 trang 7)  

7)      Sự trả thù (Vengeance): nạn nhân mang một mối hận thù lớn mà không thể giải quyết do những cấm đoán của giá trị xă hội, do sự không đủ khả năng… đă chọn việc tự hủy hoại bản thân như một cách trả thù. Thông thường đối tượng thù hận là những người thân yêu (cha, mẹ, vợ/chồng, anh chị em, bạn bè thân thiết…), kết quả của sự trả thù là mong muốn người thân yêu phải hối hận, và đau khổ suốt đời trong mặc cảm có lỗi với nạn nhân.

8)      Sự hy sinh (Sacrifice): đây là hành vi hướng đến một giá trị, v́ mục tiêu cao cả. Sự hy sinh quên ḿnh v́ độc lập tự do dân tộc trong chiến tranh, tự hào về hành vi tự sát v́ cứu giúp cho nhiều người v́ cuộc sống tố đẹp ở thế giới bên kia …  

9)      Sự vĩnh hằng (Eternité): yếu tố tôn giáo chi phối khá lớn trong suy nghĩ của nhiều nạn nhân khi họ tin rằng cái chết là con đường dẫn đến sự vĩnh hằng, một cuộc sống bất tử.

10)   Tṛ chơi (Jeu): các trận đấu sinh tử vào thời kỳ cổ đại, một sự đùa giỡn với “tử thần”, những thách thức đối với bản thân trong các tṛ chơi cảm giác mạnh mang tính khiêu khích đầy nguy hiểm. Ví dụ: các đấu sĩ giác đấu La Mă, đua xe trái phép…

Các yếu tố thuận lợi thúc đẩy hành vi tự sát (yếu tố nguy cơ)

Theo tổ chức AFSP, CDC Healthlife, các nhân tố nguy cơ của tự sát bao gồm:

Yếu tố tâm lư

a. Yếu tố gia đ́nh

Lịch sử gia đ́nh và môi trường sống là nhân tố nguy cơ của hành vi tự sát: trong gia đ́nh từng có người tự sát hay toan tự sát, lạm dụng các chất, các hành vi tấn công, hành hung, rối loạn khí sắc như trầm cảm hay mắc một số bệnh tâm thần khác.

Môi trường gia đ́nh của những người tự sát hay toan tự sát thường được mô tả như một sự bất ḥa (discordant) với hành động bạo lực, ngược đăi rơ nét bao gồm cả về việc xâm hại thể chất hay t́nh dục. Những nghiên cứu về bạn bè và anh chị em trong gia đ́nh của các nạn nhân tự sát thường chỉ ra rằng họ có khuynh hướng bắt chước, làm theo những nạn nhân đi trước.

b. Yếu tố bệnh học: Các rối loạn tâm thần (psychiatric disorders)

Ít nhất 90% nạn nhân tự sát có thể được chẩn đoán và điều trị các bệnh tâm thần: như trầm cảm nặng, rối loạn lưỡng cực, hay một số các bệnh suy nhược khác bao gồm tâm thần phân liệt.

Lạm dụng thức uống có cồn, độc chất (ma túy, thuốc gây nghiện…) đặc biệt là khi có kết hợp với trầm cảm.

Rối loạn Stress sau sang chấn (Post-Traumatic Stress Disorder), hoặc một số rối loạn lo âu khác.

Chứng háu ăn và chán ăn tâm thần (Anorexia Nervosa).

Các rối loạn nhân cách đặc biệt là nhân cách ranh giới (Borderline) và chống đối xă hội (Antisocial)

Sự đi kèm cùng một số các rối loạn (như trầm cảm đi kèm loạn thần, trầm cảm – lạm dụng rượu, chất gây nghiện…) càng làm gia tăng nguy cơ.

c. Tính xung động, bốc đồng (Impulsivity)

Tính xung động, bốc đồng cá nhân có khuynh hướng làm tăng hành vi xung động tự sát. Điều này thường gặp trong những rối loạn hành vi và rối loạn nhân cách chống đối xă hội.

d. Có tiền sử toan tự sát/ tự sát trong quá khứ

Khoảng 20-50% những nạn nhân tự sát đă từng thử (hay cố gắng) thực hiện hành vi tự sát trước đó và là một nguy cơ rất cao trong việc họ thật sự lập lại hành vi ấy trong cuộc sống

Yếu tố sinh học Có vai tṛ của một số chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters)

Một mối quan hệ khá rơ đă được chứng minh giữa việc giảm nồng độ chất chuyển hóa của  serotonin 5-HIAA trong dịch năo tủy nó làm tăng sự tác động vào việc toan tự sát và thực hiện thành công hành vi tự sát ở các bệnh nhân tâm thần.

Yếu tố xă  hội và  dân số học

a. Giới tính:

Nam giới thuộc nhóm nguy cơ cao trong việc thực hiện hành vi tự sát. Tỉ lệ nam giới tự sát thành công cao gấp 4 lần so với nữ (CDC 2004). 

b. Tuổi tác:

Nhóm tuổi vị thành niên và những người trẻ tuổi thường phải trải qua những stress, những (bối rối) và trầm cảm với những t́nh huống xảy ra trong cuộc sống gia đ́nh, nhà trường và trong giao tiếp xă hội. Khi cảm thấy tuyệt vọng, tính xung động, bốc đồng và khả năng giải quyết vấn đế và kỹ năng xă hội c̣n nghèo nàn đă thúc đẩy họ chọn tự sát như một cách giải quyết duy nhất các khó khăn trong cuộc sống. Thống kê năm 2001 cho thấy tỉ lệ tự sát ở độ tuổi từ 15 – 24 chiếm  86% (n=3,409) ở nam và 14% (n=562) ở nữ (Anderson and Smith 2003, Mỹ).

Theo Healthlife phần lớn những người quyết định tự sát luôn cung cấp những dấu hiệu cảnh báo xung quanh họ. Những dấu hiệu đó khá đơn giản như một số th́ trầm cảm và có thể bao gồm cả việc mất hết hứng thú với những hoạt động mà trước đó họ yêu thích,  trở nên cô lập và thể hiện sự quan tâm với cái chết, một số khác lại thể hiện sự thay đổi đột ngột từ trong trạng thái khí sắc trầm sang vui vẻ, bắt đầu đi thăm hỏi, tặng quà cám ơn mọi người, trả lại những vật dụng mà ḿnh đă mượn trước đây, sắp xếp lại gia đ́nh, công việc, đi du lịch…

DHHS (1999) đă liệt kê các nhân tố nguy cơ của hành vi tự sát và cả những nhân tố bảo vệ giúp ngăn chặn hành vi tự sát:

Nhân tố nguy cơ

Nhân tố bảo vệ

-         Từng có hành vi toan tự sát trước đó.

-         Có tiền sử rối loạn tâm thần, đặc biệt là trầm cảm

-         Có tiền sử lạm dụng chất có cồn và thuốc gây nghiện.

-         Gia đ́nh có tiền sử tự sát

-          Có tiền sử bị ngược đăi lúc nhỏ.

-         Cảm thấy tuyệt vọng.

-         Có khuynh hướng gây hấn hay xung động, bốc đồng.

-         Gặp trở ngại, khó khăn trong quá tŕnh điều trị bệnh tâm thần.

-         Dễ dàng tiếp cận, truy cập những phương pháp gây chết người (lethal methods)

-         T́m kiếm sự giúp đỡ một cách miễn cưỡng bởi đă quá gắn bó (quen thuộc và chung sống) với t́nh trạng bệnh tâm thần, và các rối loạn do sử dụng chất hay ư nghĩ tự sát.

-          Niềm tin mang tính tôn giáo, thuộc về truyền thống văn hóa ví dụ như tin rằng tự sát là cách giải quyết cao quư khi rơi vào t́nh trạng tiến thoái lưỡng nan.

 

-         Mất mát (mối quan hệ, địa vị xă hội, công việc và khả năng tài chính).

-         Mắc các bệnh về thể chất.

-         Bị cô lập, có cảm giác như bị cách ly, bị mọi người cắt đứt quan hệ.

-            Sự chăm sóc có hiệu quả trên lâm sàng cho các rối loạn tâm thần, thể chất và lạm dụng chất.

-         Tiếp cận dễ dàng với các hệ thống can thiệp về mặt lâm sàng và các hệ thống hỗ trợ đa dạng khi cần t́m sự giúp đỡ.

-         Hệ thống hỗ trợ nâng đỡ từ gia đ́nh và cộng đồng.

-         Hỗ trợ không ngừng về mặt y khoa và liên hệ với chăm sóc sức khỏe tinh thần.

-         Kỹ năng giải quyết vần đề, phương pháp giải quyết xung đột và không sử dụng bạo lực hay hành vi ngược đăi khi phát sinh mâu thuẩn, tranh căi.

-         Niềm tin mang tính tôn giáo, truyền thống văn hóa rằng không cổ vũ, khuyến khích tự sát và luôn tồn tại một hệ thống hỗ trợ tự vệ bản năng.

  Xem tiếp phần III