www.tamlytrilieu.com
Can
thiỆp KHỦNG HOẢNG
Khủng
hoảng tồn tại khi phương thức ứng phó
thông thường của cá nhân thất bại trong khi áp
lực kiểm soát khủng hoảng thành công vẫn đang
đè nặng, điều này khiến cá nhân cảm
thấy bị “tràn ngập”, “chôn vùi” bởi
những khó khăn có vẻ dường như không
thể giải quyết. T́m thấy bản thân ḿnh trong cơn
khủng hoảng thường là kết quả của cách
ứng phó mới có hiệu quả (Folkman, Lazarus,
Dunkel-Schetter, DeLongis, & Gruen, 1986), điều này có thể
là kết quả của những hoạt động tương
tác với nhà tâm lư. Khi cá nhân “loay hoay” t́m kiếm
những cách ứng phó trong tuyệt vọng, và kết thúc
bằng stress th́ dường như họ cần đến
sự hỗ trợ can thiệp của những “chuyên gia
khủng hoảng” (Halpern, 1973, 1975). Cùng với nhau họ
liên kết đưa ra cách giải quyết vấn đề,
hỗ trợ thân chủ vượt qua khủng hoảng
“êm ái” hơn, chịu đựng những trải
nghiệm trong cơn khủng hoảng dễ chấp
nhận hơn, và rút ra những bài học kinh nghiệm
đủ sức tự ḿnh chống đỡ,
đương đầu với các vấn đề nguy
cơ trong tương lai. Những kinh nghiệm nghiên
cứu đă cho thấy rằng sự can thiệp
khủng hoảng có thể đưa đến những
lợi ích cho cá nhân như làm giảm sự lo âu, bối
rối, giận dữ, và cảm giác không
được giúp đỡ, đơn độc
chịu đựng, điều này cũng giúp ích rất
nhiều trong việc cải thiện khả năng làm
việc, và thực hiện vai tṛ trong gia đ́nh (Bunn &
Clarke, 1979; Capone, Westie, Chítwood, Feigenbaum, & Good, 1979; Viney,
Clarke, Bunn, & Benjamin,
1985). Trong nhiều trường hợp, họ sẽ mong
đợi nhà tâm lư là một chuyên gia có phép màu. Nhà tâm
lư là hy vọng cuối cùng, và sự mong đợi
của họ có thể là quá mức, là phi thực tế
hoặc cả hai. Và khi không được đáp ứng
đủ, họ trở nên thất vọng và giận
dữ. Vào lúc này nhà tâm lư có khả năng giúp đỡ
họ theo những cách khác nhau khi t́m thấy nhu cầu
của họ. Aaron Lazare và những đồng sự
của ông đă khảo sát trên những người t́m
đến các dịch vụ sức khỏe tâm thần, và
họ đă phân biệt được 14 loại nhu
cầu khác nhau trên những cá nhân cần đến
sự can thiệp khủng hoảng:
Những người cần một
người mạnh mẽ để bảo vệ, gánh vác,
và chịu trách nhiệm thay họ. (“Please take over for me”)
Những
người cần một ai đó giúp họ duy tŕ
sự nối kết với thực tại. “Giúp tôi
biết rằng tôi đang ở thực tại”.
Họ cảm thấy trống
rỗng và cần được yêu thương. “Hăy
quan tâm, chăm sóc tôi”.
Họ cần nhà tâm lư trở thành
một giá trị để luôn cảm thấy được
an toàn. “Luôn luôn ở đây”.
Được thoát ra khỏi ám
ảnh mặc cảm tội lỗi, những người
này thường t́m đến xưng tội. “Hăy mang
mặc cảm tội lỗi của tôi đi”.
Ngay lập tức, khẩn cấp
họ cần được nói ra hết mọi thứ
đang giữ trong ḷng. “Hăy cho tôi nói hết mọi
thứ đang giữ trong ḷng”.
Dưới áp lực thôi thúc,
họ mong ước được một lời khuyên.
“Hăy nói cho tôi biết phải làm ǵ”.
Họ t́m kiếm sự sắp
xếp lại những ư tưởng, ư nghĩ mâu
thuẫn của bản thân. “Hăy giúp tôi đặt
mọi thứ trong quy luật”.
Những người thực sự
mong muốn tự bản thân hiểu được
những vấn đề bên trong của. “Tôi muốn
tham vấn”.
Họ cảm thấy không thoải
mái, khó chịu v́ các vấn đề y khoa và cần
sự chăm sóc về mặt thể chất. “Tôi
cần một bác sĩ”
Những người t́m kiếm
một vài sự giúp đỡ thiết thực như
sự giúp đỡ về kinh tế hay một nơi nào
đó để chia sẻ. “Tôi cần sự giúp đỡ
chuyên biệt”.
Họ tin rằng những khó khăn
vẫn đang tiếp diễn trong các mối quan hệ
hiện tại và cần nhà tâm lư can thiệp, ḥa
giải. “Làm điều này v́/cho tôi”.
Những người muốn có
được các thông tin về nơi sẽ giúp đỡ
đáp ứng những nhu cầu đa dạng
của bản thân, thực chất họ đang t́m
kiếm nguồn lực hỗ trợ từ cộng đồng.
“Hăy cho tôi biết nơi nào tôi có thể nhận
được điều mà tôi cần”.
Những người không có động
cơ thúc đẩy hay các bệnh nhân loạn thần,
những người được đưa đến
với nhà tâm lư trái với ư muốn của họ. “Tôi
không muốn ǵ cả”
H. Norman Wright tác giả của cuốn sách Crisis
counseling what to do and say
during the first 72 hours đă tŕnh
bày 8 bước cơ
bản cần thiết để giúp một cá nhân trong cơn
khủng hoảng.Các bước can thiệp này
được ứng dụng chung cho nhiều dạng
khủng hoảng, tuy nhiên tùy thuộc những trường
hợp cụ thể, mỗi cá nhân với những đặc
tính khác nhau sẽ cần một sự quan tâm đặc
biệt khác nhau, v́ vậy việc ứng dụng những
bước can thiệp này đ̣i hỏi sự linh
hoạt, uyển chuyển, thích hợp.
Tiến
tŕnh can thiệp
Sự
can thiệp ngay lập tức
Bước đầu
tiên ở một trường hợp đang trong cơn
khủng hoảng là phải lựa chọn giữa can
thiệp khủng hoảng về mặt tâm lư học hay là
sự can thiệp sức khỏe y khoa khẩn cấp.
(Kenneth France). Can
thiệp khủng hoảng là thích hợp nếu trường
hợp cá nhân đang trong cơn khủng hoảng và
vẫn có khả năng tham gia giải quyết vấn
đề một cách hợp lư, logic. Sự can thiệp
sức khỏe y khoa khẩn cấp là cần thiết khi
nhà tâm lư hướng đến việc làm giảm t́nh
trạng nguy hiểm có nguy cơ sắp xảy ra (suy
kiệt sức khỏe thể chất quá mức do
khủng hoảng, các rối loạn chức năng, nguy cơ
tự làm hại bản thân và người khác…).
Lựa chọn h́nh thức can thiệp phù hợp với t́nh
trạng của cá nhân là một quyết định
cần thiết, quan trọng. Những cá nhân trong cơn
khủng hoảng chỉ đơn giản muốn
được chia sẻ và t́m hiểu về những
điều ǵ họ đă thất bại trong việc t́m
các công cụ hỗ trợ, v́ vậy sự can thiệp
sức khỏe y khoa khẩn cấp là không thích hợp
với họ, tương tự như vậy với
những cá nhân gặp khó khăn trong việc giải
quyết vấn đề hay thực hiện các quyết
định có lư trí.
Can thiệp
khủng hoảng là sự can thiệp ngắn, ngay tức
thời, với việc chọn lựa nhanh các h́nh
thức can thiệp hỗ trợ, bởi cơn khủng
hoảng được xem là mang tính nguy hiểm, đe
dọa những cá nhân có liên quan, và tại thời điểm
của sự can thiệp là thời gian của sự xáo
động, sự đau khổ ở mức độ cao
với t́nh trạng dễ bị tổn thương,
bối rối, hỗn loạn của cá nhân… đây chính
là đáp ứng trong chuỗi tương tác đầu tiên
của cá nhân. Một cá nhân rơi vào khủng hoảng
sẽ cần sự “bảo đảm” (về mặt
tinh thần: sự nâng đỡ, an toàn…) từ nhà tâm lư
để chắc rằng họ đă làm điều
đúng khi liên lạc với nhà tâm lư, xóa bỏ t́nh
trạng hay do dự bối rối trước một
quyết định. Lúc này họ cần được
nhà tâm lư “chào đón” và cảm thấy ḿnh được
ưu tiên.
Mục
tiêu của can thiệp khủng hoảng
-
Mục tiêu tối thiểu là khôi
phục t́nh trạng cân bằng, và mức độ
hoạt động chức năng trước đó.
-
Mục tiêu tối ưu: tích lũy
những bài học kinh nghiệm, làm giàu thêm nguồn
lực ứng phó, để
có khả năng ứng phó tốt hơn cho những áp
lực trong tương lai.
¶
Thiết
lập trạng thái cân bằng.
Cá nhân không
thể chịu đựng những stress do cơn khủng
hoảng mang lại quá lâu. Bằng cách này hay cách khác
họ sẽ giải quyết chúng trong ṿng 6 tuần và t́nh
trạng cân bằng phải được tái thiết
lập hoàn toàn. Nếu họ phải đợi để
gặp nhà tâm lư th́ khoảng thời gian không nên quá
một đêm, và cần phải thực hiện ngay
một cuộc trao đổi ngắn qua điện
thoại.
Cách thức mà cá
nhân trong cơn khủng hoảng lựa chọn để
thiết lập trạng thái cân bằng có thể lành
mạnh hay không lành mạnh. Trong cơn khủng hoảng là
t́nh trạng căng thẳng, cảm giác thúc bách, nhận
thức chưa đúng và giảm năng lực hoạt
động hiệu quả, v́ vậy dù họ đă có
rất nhiều cố gắng nhằm làm giảm nhẹ
nhanh chóng t́nh trạng trên nhưng không mang lại hiệu
quả, điều này có thể để lại
những kết quả không mong đợi làm tồi
tệ hơn t́nh trạng khủng hoảng. Họ có
thể trở nên “tràn
ngập”, bị “chôn vùi” và lựa chọn cách tự
hủy hoại bản thân nếu không nhận được
một sự giúp đỡ ngay lập tức. Nhà tâm lư
cần hành động nhanh chóng bởi hệ thống
hỗ trợ từ bạn có thể làm giảm khủng
hoảng một phần nào đó và có thể giúp bảo
vệ cá nhân khỏi việc gây hại cho bản thân
họ.
¶
Sử
dụng các kỹ thuật “chống đỡ” (sustainment
techniques)
Trong suốt giai
đoạn bắt đầu hỗ trợ thân chủ, các
kỹ thuật “chống dỡ” được sử
dụng nhằm mục đích làm giảm lo âu, mặc
cảm tội lỗi, t́nh trạng căng thẳng, và cung
cấp những hỗ trợ về mặt cảm xúc.
Tất cả những điều này là nổ lực
nhằm khôi phục trạng thái cân bằng.
Sự cam đoan
(reassurance) được sử dụng trong giai đoạn
đầu tiên này hỗ trợ rất nhiều cho thân
chủ luôn cảm thấy lo lắng về t́nh trạng
kiệt sức, và muốn “nổ tung” của ḿnh.
Sự cam đoan quá nhiều có thể làm giảm hoàn toàn
t́nh trạng lo âu khi ở một số trường
hợp cần thiết cho những thay đổi tích
cực diễn ra. Việc khuyến khích, động viên
giúp cho thân chủ vượt qua cảm giác về sự
tuyệt vọng và không có sự giúp đỡ.
Các phương
pháp gây tác động trực tiếp được
sử dụng nhằm thúc đẩy mong muốn thay đổi
ở thân chủ, và được sử dụng rất
thường xuyên trong can thiệp khủng hoảng, bao
gồm việc động viên khuyến khích những hành
vi mới, tăng cường củng cố (reinforcing)
những điều mà họ đă từng hoàn thành.
Khi đang trong t́nh
trạng trầm cảm, bối rối, hoang mang, thân
chủ có thể cần những kỹ thuật thúc đẩy
mạnh mẽ hơn nữa. Điều này được
áp dụng trên những thân chủ đă xác định rơ
những kế hoạch hành động hay có những
cảnh báo về kết quả rơ ràng nếu thân chủ
hành động theo cách thức đă chọn. Những thân
chủ tự sát cần sự can thiệp trực
tiếp. Một vài hậu quả của khủng hoảng
như tự sát, tấn công người khác, bỏ đi,
sự tổn hại về thể chất, loạn
thần, hay rạn nứt gia đ́nh, sự tách rời
bản thân khỏi sự thừa nhận, chấp nhận
cảm xúc, sự ràng buộc với gia đ́nh là điều
bất hạnh cho cả bản thân họ và các thành viên
trong gia đ́nh. V́ vậy mà một trong những mục tiêu
của can thiệp khủng hoảng là giúp ngăn chặn
những ảnh hưởng, hậu quả bất
hạnh.
¶ Tránh những tác động, hậu quả bất hạnh, gây nguy hiểm
Công việc
đầu tiên là cung cấp số điện thoại
của đường dây nóng cho thân chủ, xác định
ngay lập tức t́nh trạng khẩn cấp thực
sự của khủng hoảng và sự cần thiết
của can thiệp y khoa khẩn cấp.
Lần hẹn
đầu tiên cần được sắp xếp ngay
lập tức ngay sau khi thân chủ gọi yêu cầu.
Cố gắng thu thập đầy đủ các thông tin,
t́m cách thức liên hệ giữa chúng, h́nh thành những
giả định về vấn đề của thân
chủ và lập những kế hoạch đơn
giản cần thiết cho buổi làm việc đầu
tiên, và uyển chuyển, thay đổi cho phù hợp
với nhu cầu của thân chủ. Cần chắc
chắn duy tŕ sự kiểm soát trong các cuộc tṛ
chuyện qua điện thoại với những giới
hạn nhất định (tuân thủ khung trị
liệu), và chỉ nhằm mục tiêu chính là sắp
xếp buổi hẹn đầu tiên, và h́nh thành bước
đầu cho mối quan hệ. Và điều này tự
bản thân nó cũng đă có sự hỗ trợ
nhất định cho thân chủ. Nếu tỏ ra quan tâm
quá mức thân chủ có thể muốn nhà tâm lư giải
quyết ngay t́nh trạng của ḿnh qua điện
thoại, nếu nghe quá nhiều điều về câu
chuyện của thân chủ, có thể họ sẽ do
dự trong việc thảo luận lại một lần
nữa. Những điều này khiến nhà tâm lư khó có
thể có được buổi hẹn đầu tiên
ngay lập tức sau đó.
Hành
động nhanh chóng
Là bước
thứ hai trong can thiệp khủng hoảng, một điều
ǵ đó cần được bắt đầu thực
hiện ngay. Cá nhân trong cơn khủng hoảng thường
“loạng choạng” không định hướng và
họ cần hướng dẫn để “di
chuyển” một cách có ư nghĩa, mục đích và
mục tiêu định hướng hành vi. Họ cần
cảm thấy ḿnh đă làm điều đúng đắn
ngay từ buổi làm việc đầu tiên tuy nhiên đây
không phải là thời điểm để điền vào
bảng câu hỏi, thực hiện trắc nghiệm nhân cách,
thăm ḍ về quá khứ hay chỉ thiết lập quan
hệ. Nhà tâm lư cần trở nên rất chủ động,
tích cực, tham dự vào, góp phần vào và hướng
dẫn (direct) trong buổi làm việc đầu tiên.
Lắng nghe là rất quan trọng, và góp phần thu
thập thông tin.
Trong thời gian này hăy giúp cá nhân hiểu về
khủng hoảng. Thông thường khủng hoảng có liên
hệ với một vài sự kiện, nhưng cá nhân không
thể cùng khắc phục cả hai (khủng hoảng –
sự kiện), điều này gây cảm giác thất
vọng, v́ vậy cần động viên khuyến khích
họ bộc lộ cảm xúc của bản thân.
¶
Thăm
ḍ t́m hiểu trong quá khứ
Mặc dù can
thiệp khủng hoảng không tập trung quá nhiều vào
quá khứ, nhưng điều quan trọng cần xác
định hoạt động chức năng của cá nhân
như thế nào trước khủng hoảng. T́m
kiếm những dấu hiệu của t́nh trạng xúc
cảm trước đó, kiểu mẫu hành vi, tiến
tŕnh suy nghĩa, các mối quan hệ khác, những vấn
đề về sức khỏe thể chất, cố
gắng phát hiện điều ǵ đă xảy ra, ai là người
liên quan đến… khi khủng hoảng xảy ra và
tiếp diễn. Các câu hỏi về sự hướng
dẫn của nhà tâm lư dành cho ai, điều ǵ, khi nào,
ở đâu và như thế nào… thường được
giải quyết hoàn tất khi cá nhân kể câu chuyện
của họ. “Điều ǵ làm nên sức mạnh
của thân chủ?” “Điều ǵ là nhược điểm,
thiếu sót?” (khó khăn kinh tế, h́nh ảnh về
bản thân, ḷng tự tôn thấp, thiếu hệ
thống hỗ trợ, không quan hệ bạn bè…) “V́
sao khả năng giải quyết vấn đề bị
sụp đổ tại thời điểm đó?” “Đă
từng trải qua sự kiện tương tự trước
đó?”… Phần lớn những người liên quan
đến khủng hoảng đều trải qua những
loạt sự kiện bị dồn nén, tích tụ, và
điều này cần được nhận biết,
họ luôn trải qua các giai đoạn không thể, hay không
có khả năng ứng phó, đều dẫn đến
khủng hoảng, và nguyên nhân của sự không thể
hay không có khả năng ứng phó cần được
xác định. Khi họ kể câu chuyện của ḿnh hăy
lắng nghe họ cảm thấy như thế nào. Sự
tương tác giữa cơn khủng hoảng với công
việc, mối quan hệ bạn bè, cuộc sống gia
đ́nh và sức khỏe thể chất như thế nào?
Nhịp sống thường ngày của họ có như
trước hay đă đổi
khác? Tiến tŕnh suy nghĩ của họ như thế nào
– có nguyên vẹn, rơ ràng? Có quá huyễn tưởng?
Giấc mơ?.
¶
Thăm
ḍ những “sức mạnh” và những nhược
điểm của thân chủ
Rất nhiều
người trong cơn khủng hoảng đă mô tả
cuộc sống của ḿnh với những thiếu sót,
sai lầm… hăy t́m những điểm mạnh bên
cạnh những khuyết điểm của họ. Khi phát
hiện một vài điểm mạnh hay năng lực,
một phần của phong cách sống của họ, nhà tâm
lư có thể động viên khuyến khích họ theo
chiều hướng tích cực.
Khi họ lên chương
tŕnh cho bài tập thể chất của ḿnh, hăy khen thưởng,
động viên, khuyến khích họ tiếp tục duy tŕ
nó. Đây là nền tảng gầy dựng sự tự
tin, nghị lực, tạm làm xao nhăng khỏi vấn đề
hiện tại. Những thành viên trong gia đ́nh hay
bạn bè có thể là điểm mạnh, và có một giá
trị nào đó, họ có khả năng phát hiện
dấu hiệu cảnh báo những hành vi nguy hiểm
từ cá nhân và một người nào đó. Những
tiềm năng trong tương lại cần được
nh́n thấy và cảnh báo cho cá nhân hay gia đ́nh họ.
¶
Xác
định rơ nhu cầu tức thời của thân
chủ.
Việc thu
thập những thông tin từ câu chuyện của cá nhân
và từ những câu hỏi của nhà tâm lư có thể phát
hiện những vấn đề sau: (1) Họ bộc
lộ những nhu cầu nào cần được hướng
đến ngay lập tức trong cuộc sống (2)
Những điều mà họ bộc lộ có bị tŕ hoăn
cho đến sau này không. Cần giúp họ xác định
và nhận ra được trong cơn khủng hoảng
điều ǵ họ đang chờ đợi và điều
ǵ cần phải được kiểm soát ngay lúc này.
Tuy vậy hiếm khi bạn phải đặt câu hỏi
hay khơi gợi để nhận được
những thông tin này, bởi thân chủ luôn luôn tự
bộc lộ. Song khi thảo luận về t́nh huống
với thân chủ hăy chắc rằng giữ lại toàn
bộ những câu hỏi và vấn đề trong tâm trí.
Nhận thức mức độ sáng suốt, linh hoạt
và khả năng giao tiếp, trao đổi thông tin
của họ. Cố gắng nhận biết nguyên nhân
của khủng hoảng với những câu hỏi gợi
như “hăy cho tôi biết điều ǵ đă xảy ra
khiến bạn bối rối/ đau buồn?” hay “Có
thể cho tôi biết nguyên nhân của sự đau
buồn/ xúc động này là ǵ?” “Tôi muốn
được nghe những ǵ bạn chia sẻ” Thỉnh
thoảng trong t́nh trạng khủng hoảng họ gặp
khó khăn trong việc tŕnh bày một cách rơ ràng
những điều ḿnh muốn nói. Khi điều này
xảy ra, nhà tâm lư cần kiên nhẫn, bất kỳ
những dấu hiệu thiếu kiên nhẫn bằng
lời hay không lời nào, sự khó chịu, hối thúc
thân chủ …sẽ gây bất lợi. Tạo một không
gian an toàn, cho phép thân chủ ngừng lại, yên tĩnh.
Cần chú ư rằng đặc biệt trong suốt giai
đoạn tương tác (giai đoạn đầu
của chuỗi khủng hoảng) là t́nh trạng bối
rối, bất an, mất định hướng, và
những chức năng của tiến tŕnh tâm trí
hoạt động không như lúc b́nh thường, có
những nỗi đau quá lớn để có thể nói
bằng lời hay diễn đạt một cách dễ dàng.
Trong khi lắng
nghe hăy chú ư những chủ đề quan trọng mà
họ bày tỏ. Nhà tâm lư có thể phát hiện ra
rằng họ đă lập lại nhiều lần trong
suốt tiến tŕnh làm việc với mức độ xúc
cảm mănh liệt, hay là cơn buồn chán, đau
khổ. Tránh việc đưa những đáp ứng không
liên quan đến chủ đề đang tŕnh bày, hay
đáp ứng quá mức vượt khỏi khả năng
của nhà tâm lư. Tiến tŕnh can thiệp này là sự giúp
đỡ có chọn lọc, và thân chủ phải
nhận ra được ư nghĩa của sự giúp đỡ
này.
¶
T́m
đến sự sáng tỏ, rơ ràng
Sự bối
rối, đau khổ có thể làm cho những diễn
đạt, biểu lộ của thân chủ không
được sắp xếp, rơ ràng. Khi thân chủ có
thể diễn đạt về bản thân một cách
thẳng thắn hăy giúp họ thăm ḍ, t́m hiểu
những lựa chọn khác có giá trị trong t́nh
huống này, câu hỏi như: “Điều ǵ khác
được thực hiện tại thời điểm
hiện nay” có thể giúp ích. Khám phá hệ thống
hỗ trợ nào phù hợp với họ: người
bạn đời, cha mẹ, bạn bè, đồng
nghiệp thân thiết, nhóm hỗ trợ đồng đẳng
– những người được đào tạo,
huấn luyện để hỗ trợ những người
cô lập, hoặc có thể t́m một hệ thống
hỗ trợ mới phù hợp.
Sự bối
rối, vô định, hỗn loạn trong tâm trí, cảm
xúc, và mất khả năng kiểm soát có thể
khiến họ tạm ngưng “liên lạc” với môi
trường bên ngoài, và mong muốn được yên tĩnh,
t́m kiếm sự giúp đỡ để được
ổn định, cân bằng, và có lẽ đôi khi
họ muốn ở một vị trí khác, một nơi khác
trong thời gian ngắn bởi nhu cầu cần một không
gian riêng, hoặc muốn rời khỏi những người
khác đang cố giúp đỡ họ nhưng thật ra
lại càng làm tăng thêm sự bối rối, lo lắng
bởi những cố gắng không phù hợp. Cơn
khủng hoảng “bùng nổ” khi cá nhân nhận thức
được điều ǵ đang diễn ra, và có
thể phản ứng quá mức với chúng, đôi khi chính
cách phản ứng của họ
mới là vấn đề chính, một vài người
lao vào “chiến đấu”với những sự
kiện b́nh thường vô nghĩa, một số khác
lại tŕ hoăn không đáp ứng với những vấn
đề quan trọng.
¶
Tạo
điều kiện thuận lợi hay đóng vai tṛ hướng
dẫn.
Nhà tâm lư
tạo điều kiện thuận lợi hoặc là đóng
vai tṛ hướng dẫn trong việc giúp đỡ cá nhân
liên quan đến khủng hoảng? Nếu khủng
hoảng có nguy cơ gây nguy hiểm cao cho bản thân cá nhân
và những người khác, nếu cảm xúc tràn
ngập trong tâm trí khiến cá nhân không có khả năng
tự thực hiện chức năng hay tự chăm sóc,
bảo vệ bản thân, nếu cá nhân sử dụng
thuốc hay thức uống có cồn hay đă từng
bị tổn thương… lúc này nhà tâm lư cần đóng
vai tṛ người hướng dẫn.
Khi cá nhân không c̣n
nguy hiểm với những người khác và bản thân,
khi ấy họ có thể thực hiện cuộc gọi
giúp đỡ, hoạt động có mục đích,
tự lái xe và chăm sóc, bảo vệ bản thân… nhà
tâm lư đóng vai tṛ tạo điều kiện. Cùng
với thân chủ lập kế hoạch, và thúc đẩy
thân chủ tự thực hiện kế hoạch với
sự động viên khuyến khích của nhà tâm lư,
sự giúp đỡ của hệ thống hỗ trợ.
Và cho dù đóng
vai tṛ hướng dẫn hay tạo điều kiện
thuận lợi th́ lắng nghe và động viên,
khuyến khích luôn là những công cụ quan trọng
nhất.
¶
Xem
xét nhiều sự lựa chọn mới.
Bởi những
cảm giác không được sự giúp đỡ tràn
ngập trong suốt cơn khủng hoảng, khiến thân
chủ do dự, thiếu quyết đoán, sợ hăi… nhà
tâm lư có thể giải quyết điều này bằng
sự động viên khuyến khích thân chủ sáng
tạo, t́m những lựa chọn khác nhau phù hợp và
tiến hành hành động trong sự chuẩn bị. Hướng
dẫn họ xem xét các khả năng của những
sự lựa chọn: “Hăy xem xét đến tính khả
thi, nếu anh/chị ở đó, thực hiện điều
này th́….?” “Điều ǵ có thể xảy đến
nếu anh/chị sẽ…” “Anh/chị nghĩ c̣n ai khác
phải cố gắng trong thời điểm này?” …
Dự báo trước những chướng ngại
vật, những khó khăn (có thể không hoàn toàn)
cần phải đối mặt khi thực hiện kế
hoạch.
Nó giúp thân
chủ hoạt động trong vị thế tích cực,
phát huy những điểm mạnh. Cách làm này đ̣i
hỏi khả năng kiểm soát những khó khăn trước
đó của thân chủ như thế nào, sự thành công
từ việc thực hiện các lựa chọn này giúp xây
dựng, cải thiện ḷng tự tôn (self-esteem).
Ngăn
chặn, đẩy lùi những nguy hiểm, những
kết thúc bi thảm
Bước
thứ ba là bước bắt đầu hoàn tất
mục tiêu được giới hạn của tham
vấn khủng hoảng, để ngăn chặn, đẩy
lùi những nguy hiểm hay những kết thúc bi thảm và
phục hồi trạng thái cân bằng của cá nhân.
Đây không phải là thời điểm cố gắng
tạo những thay đổi bên trong cá nhân. Trước
hết phải giúp cá nhân hoàn thành một vài mục tiêu
được giới hạn. Điều này tạo ra
một ít thử thách, (nhưng không quá khó khăn)
buộc cá nhân phải cố gắng thực hiện và
đạt được. Thường đây chỉ là
nhiệm vụ đơn giản có thể tạo ra
cảm giác khuây khỏa.
Làm
tăng, thúc đẩy hy vọng và những mong đợi
tích cực
Khi cá nhân trong cơn
khủng hoảng cảm thấy tuyệt vọng th́ điều
quan trọng là phải khôi phục, làm tăng, thúc đẩy
niềm hy vọng và những mong đợi tích cực.
Đừng đưa ra những lời hứa không
thực hiện được nhưng hăy động viên,
khuyến khích họ giải quyết vấn đề
của ḿnh. Niềm tin của họ vào khả năng, năng
lực của bản thân là rất quan trọng.
Đây là thời điểm họ cần “mượn”
hy vọng và niềm tin của nhà tâm lư cho đến khi
họ “quay trở lại”. Họ mong đợi
khủng hoảng sẽ được giải quyết
bằng một cách nào đó trong một thời điểm
nào đó, và nhà tâm lư th́ mong đợi họ “làm
việc” để có khả năng giải quyết
vấn đề. Đây là cách tiếp cận và tương
tác với cá nhân, thường điều này mang lại
kết quả tốt hơn là che phủ, “giấu”
đi t́nh trạng của họ.
Việc tiếp cận để giải
quyết vấn đề, tốt hơn là đưa ra
một lời cam đoan “vỗ về”, làm yên ḷng
họ nhưng thất bại, là một bước đi
tích cực. Có thể đặt câu hỏi về
những cơn khủng hoảng trong quá khứ và
những t́nh trạng bối rối khó chịu, cùng
với việc phát hiện ra cách làm thế nào để
kiểm soát vấn đề. Điều này giúp cá nhân
nh́n lại việc ḿnh đă từng trải qua, và hy
vọng vào hiện tại.
Mức độ
lo lắng ở họ có thể giảm do họ sẽ nh́n
t́nh huống của ḿnh với thái độ khách quan hơn.
Đây là một cách thức quan trọng trong việc giúp
cá nhân phục hồi cân bằng.
¶
Thông
tin:
Trước tiên,
việc t́m kiếm những thông tin cá nhân cung cấp cho
nhà tâm lư t́nh trạng của thân chủ. Thân chủ có
nh́n t́nh trạng của ḿnh với một bức tranh toàn
vẹn hay chỉ là những mảnh ghép được
hợp thành? Và họ có toàn bộ sự thật? Họ
có đang làm “méo mó” t́nh
trạng của ḿnh bởi những cảm xúc hay định
kiến ? Họ có hiểu được đây chỉ là
những đáp ứng tự nhiên và những cảm xúc b́nh
thường trong suốt thời gian khủng hoảng.
Đặt những câu hỏi đi thẳng vào vấn
đề và thúc đẩy, làm rơ
những câu trả lời mang thông tin có thể giúp
thân chủ trong hai việc: (1) nhà tâm lư có thể giúp thân
chủ điền đầy đủ, chính xác vào
những chỗ c̣n trống thông tin và (2) những nỗi
sợ hăi và sự bận tâm quá mức có thể
được giảm bớt khi được cung
cấp những thông tin chính xác, đầy đủ.
Cả hai điều này sẽ giúp phục hồi cân
bằng.
¶
Tương
tác:
Việc xem xét
những thông tin trong cơn khủng hoảng có liên quan
đến việc cá nhân tương tác như thế nào
với t́nh huống khách quan. Làm thế nào để
một cá nhân “theo đuổi” sự lựa chọn hành
động để thay đổi cuộc sống
của ḿnh, (như mất việc hay người bạn
đời) và điều ǵ được lựa
chọn? (chăm sóc những đứa con khi người
bạn đời mất hoặc bỏ đi). Giúp cá nhân
nhận ra rằng những cơ hội và kết quả
của bất kỳ những quyết định nào cho
bản thân hay cho người khác đều có thể có
liên quan. Kiểm tra những lựa chọn và những
kết quả, sau đó tập họp lại theo những
hướng có khả năng ứng phó cho cả hiện
tại và trong hoàn cảnh tương lai.
Khi thân chủ
trở nên mạnh mẽ hơn và có khả năng,
họ sẽ có thể tự t́m hiểu bản thân trong các
t́nh huống và làm thế nào để đáp ứng
lại (về mặt cảm xúc và hành vi) với t́nh
huống ấy.
Cung
cấp hệ thống hỗ trợ
Một trong
những nguyên nhân làm tăng thêm, kéo dài khủng
hoảng là thiếu hệ thống hỗ trợ xă
hội phù hợp. Can thiệp khủng hoảng phải bao
gồm cả việc cung cấp sự hỗ trợ.
¶
Cuộc
gọi lại
Điều quan
trọng là những cuộc gọi lại phải nhanh chóng
nhưng không có nghĩa là ngay lập tức, nếu nhà tâm
lư gọi lại ngay sau vài phút sẽ khuyến khích
mối quan hệ phụ thuộc. Thời gian gọi
lại có thể khoảng 30 phút, điều này tạo cơ
hội cho thân chủ suy nghĩ về ḿnh, trở nên b́nh
tĩnh hơn trước khi tŕnh bày vấn đề
của ḿnh, quan trọng hơn điều này giúp nhà tâm
lư thoát khỏi vai tṛ như một chuyên gia đầy
quyền phép trong suy nghĩ của họ. Trường
hợp cá nhân nguy cơ tự sát cao, th́ điều dĩ
nhiên nhà tâm lư cần phải thực hiện cuộc
gọi ngay lập tức.
Cá nhân trong cơn
khủng hoảng luôn cần sự đảm bảo
rằng họ có thể gọi bất cứ lúc nào và nhà
tâm lư sẽ sẵn sàng tṛ chuyện với họ trong vài
phút. Dù được nhà tâm lư đề nghị, nhưng
họ sẽ yên lặng “đấu tranh” với
việc có gọi hay không, cuộc đấu tranh càng mănh
liệt làm gia tăng thêm khủng hoảng. Những cá nhân
có ḷng tự tôn thấp thường dễ rơi vào
việc đấu tranh có nên hay không gọi cho nhà tâm lư.
Tuy nhiên những
cuộc gọi luôn phải được đặt trong
giới hạn, giới hạn này có thể thay đổi
tùy theo t́nh trạng của thân chủ nhưng luôn luôn
phải được tuân thủ.
¶
Mở
rộng hệ thống hỗ trợ.
Cách tốt
nhất để giúp đỡ một cá nhân là mở
rộng hệ thống hỗ trợ ngay khi có thể.
Điều này làm giảm những đ̣i hỏi ở nhà
tâm lư, giúp cá nhân vượt qua khủng hoảng hiện
nay, và có thể giúp ngăn ngừa khủng hoảng trong
tương lai.
Khi làm việc
với thân chủ, cố gắng xác định loại
hệ thống hỗ trợ nào mà họ có: những
mối quan hệ thân thuộc, bạn bè mà họ có? Ai là
người có thể chia sẻ trong lúc khó khăn? Xác
định các hệ thống hỗ trợ có thể giúp
đỡ trực tiếp khi họ cần. Cần chắc
chắn rằng nhà tâm lư có những hướng dẫn
chuyên biệt để hỗ trợ cá nhân, đó không
phải là hàng loạt những lời khuyên bằng
lời không cần thiết, không mang lại lợi ích
tại thời điểm hiện nay. Chú ư đến
việc thân chủ cảm thấy đảm bảo,
ổn định, thoải mái với hệ thống
hỗ trợ ấy, và ngay khi họ dần dần rút lui
khỏi hệ thống ấy.
¶
Đảm
nhận trách nhiệm (be in charge)
Trong can thiệp
khủng hoảng sử dụng hệ thống hỗ
trợ đ̣i hỏi nhà tâm lư cần kiểm soát, định
hướng buổi làm việc, kiểm soát mức độ
và sự biểu lộ của tức giận, bảo
vệ thân chủ khỏi áp lực hay sang chấn,
kiểm soát mức độ lo âu… Đây là một trong
những nguyên tắc làm việc, đặc biệt
cần được tuân thủ khi làm việc cùng
nguồn lực hỗ trợ là gia đ́nh, bạn đời
của thân chủ, trong đó bao gồm việc thiết
lập khuôn khổ làm việc (lịch hẹn, thời
gian…), tạo không an toàn, cởi mở,… cho thân chủ
và những thành viên hỗ trợ khác biết họ có
thể tự do, bày tỏ, chia sẻ, nhà tâm lư hỗ
trợ họ nh́n vào vấn đề, xem xét chúng, hỗ
trợ họ vượt qua với những giải pháp
mới, giúp đỡ họ lựa chọn những cách
thức tốt hơn trong việc bộc lộ, tránh t́nh
trạng leo thang trong giao tiếp. Vấn đề quan
trọng là tạo một không khí giao tiếp lành
mạnh, điều đó bao gồm việc thiếp
lập một số chỉ dẫn đặc biệt như:
(1)
Trong cùng một thời điểm, chỉ nên có
một người nói, mỗi người lắng nghe có
mục đích nhằm để hiểu rơ nhận
thức của cá nhân và sự biểu lộ và cảm
thấy như thế nào.
(2)
Cá nhân cần nói cho bản thân ḿnh không
phải cho người khác. Bất kỳ sự giả
định nào về cảm xúc, suy nghĩ của một
người khác đều cần được thể
hiện, kiểm tra lại.
(3)
Xác định sự tương phản, khác
biệt làm nên suy nghĩ và cảm xúc, giữa thực
tại và quan điểm dư luận.
(4)
Bất cứ sự bộc lộ, biểu
hiện mơ hồ nào cũng cần được làm rơ,
để tất cả những người hiện
diện cần hiểu được một cách rơ ràng.
(5)
Sự khác biệt trong quan điểm luôn
tồn tại và điều đó luôn đúng, không có ǵ
là sai trái.
(6)
Khi đang nói, một cá nhân có thể được
khuyến khích mà không bị cắt ngang nhưng sự
độc thoại không được chấp nhận,
bởi t́nh trạng độc thoại gây mất hứng
thú cho những người xung quanh, và tạo cảm giác
cá nhân đang kiểm soát. Hơn thế nếu t́nh
trạng này duy tŕ, nó có thể là nguyên nhân cho những
cảm xúc leo thang ở chính cá nhân và có thể ở
những thành viên khác. Chấm dứt t́nh trạng độc
thoại bằng cách làm rơ vấn đề hỏi
những người khác về điều họ đă
nghe thấy, bàn luận về những đáp ứng không
lời của một ai đó, … “Anh/chị đă mang
lại rất nhiều ư kiến hay song tôi muốn chúng ta
dừng lại và làm rơ chúng.”
Tập
trung vào việc giải quyết vần đề
Đây được
xem “xương sống” (backbone), là nỗ lực
trọng tâm của tiến tŕnh can thiệp khủng
hoảng. Nhà tâm lư cùng thân chủ cố gắng xác định
vấn đề chính đưa đến khủng
hoảng và sau đó hỗ trợ họ lập kế
hoạch, tiến hành các phương cách giải quyết
vấn đề chính ấy. Có thể có những cảm
xúc, và những vấn đề xuất hiện trong
việc t́m ra cách thức giải quyết, nhưng cần
chú ư rằng luôn tập trung vào vấn đề chính cho
đến khi chúng được giải quyết. Lúc này
nhà tâm lư và thân chủ như một nhóm cùng làm
việc, William Glasser, tác
giả của liệu pháp thực tế (Reality Therapy)
đă sử dụng cụm từ chúng ta trong tham vấn:
“Chúng ta có thể làm ǵ?” “Chúng ta giải quyết chúng
như thế nào?” hay “hăy nh́n xem chúng ta có những
tiến triển ǵ khi làm việc cùng nhau?” Việc thân
chủ dấn thân vào hoàn thành kế hoạch mang
nhiều ư nghĩa: (1) làm tăng cơ hội theo đuổi
suốt tiến tŕnh, (2) giúp phát triển khả năng
tự lập (self-reliance).
Trong quá tŕnh
giải quyết vấn đề, cần tập trung vào
việc thiết lập các mục tiêu, t́m những
nguồn lực có giá trị sử dụng trong việc
giải quyết vấn đề và động năo t́m
những lựa chọn khác nhau. Lên danh sách các lựa
chọn có thể được sử dụng. Nếu thân
chủ gặp khó khăn, cạn kiệt ư tưởng, th́
nhà tâm lư có thể gợi ư, đề nghị một vài
lựa chọn khác nhau, tuy nhiên nhà tâm lư không thể
đưa ra lời khuyên bảo thân chủ phải làm
điều ǵ?.
Sau khi lên danh sách
các lựa chọn, hăy giúp thân chủ “nh́n thấy” trước
kết quả của những lựa chọn hành động
ấy, cả điểm tích cực lẫn tiêu cực. Câu
hỏi lớn đặt ra là: “liệu lựa chọn
theo cách thức này sẽ đi ngược lại
những giá trị của thân chủ?”, Vd: người
chồng đang gặp khó khăn về vấn đề
tài chính. Lựa chọn giải quyết là làm thêm công
việc thứ hai, tuy nhiên điều có giá trị ư nghĩa
lớn của anh là mỗi tối dành thời gian cho gia
đ́nh, cuối tuần có thể đi lễ, vui chơi
cùng các con, trong khi công việc làm thêm sẽ buộc anh ra
ngoài vào mỗi tối và không có ngày nghỉ cuối
tuần.
T́m kiếm
những mâu thuẫn, xung đột về giá trị
bằng việc đặt 2 câu hỏi song song: kết
quả có thể xảy ra? và cảm xúc của thân
chủ trước những khả năng có thể
xảy ra? Giúp thân chủ nhận thức được
kết quả việc ḿnh sẽ làm và lựa chọn. Tránh
t́nh trạng cách thức giải quyết vấn đề
này lại làm phát sinh một vấn đề khác
thậm chí nghiêm trọng hơn.
¶
Yêu
cầu, đề nghị các bước rơ ràng, xác
thực
Sau khi lượng
giá những lựa chọn khác nhau, hỗ trợ thân
chủ lập tiến tŕnh hành động theo từng bước
một, hết bước này đến bước khác
(step by step), mỗi bước là một mục tiêu
nhỏ, đơn giản, nhưng chi tiết, rơ ràng, có
thể thực hiện, (tránh đặt những mục tiêu
lớn, hay cùng lúc phải hoàn thành nhiều mục tiêu…),
cố gắng tiên liệu trước những chướng
ngại vật có thể gặp phải, và cả
những yếu tố khách quan có thể xuất hiện gây
hại bất ngờ. Nhà tâm lư cần động viên, thúc
đẩy họ thực hiện, đặt các câu
hỏi thúc đẩy họ tự quyết định:
Anh/chị sẽ làm ǵ, làm như thế nào, và khi nào?.
Tuy nhiên, cảm xúc gây ảnh hưởng đến t́nh
trạng thể chất làm thân chủ mệt mỏi, không
muốn thực hiện, dễ bỏ cuộc, ít cố
gắng, điều này đ̣i hỏi nhà tâm lư thể
hiện sự kiên nhẫn, tin tưởng vào khả năng
của thân chủ và giúp họ xây dựng kế
hoạch thực hiện.
Bất kỳ
một kế hoạch nào được tiến hành cũng
cần giai đoạn xem xét lại tiến tŕnh đă
thực hiện, nhằm lượng giá, xác định
lại mục tiêu, có những thay đổi cho phù
hợp và tiếp tục được thực hiện
cho đến khi hoàn thành mục tiêu chính đề ra.
¶
Tập
trung vào thực tại
Những thông tin
giúp t́m ra cách giải quyết vấn đề, nhưng
không phải lúc nào cũng vậy. Một vài người
có xu hướng tránh né vấn đề thực tại,
và như vậy họ hy vọng tránh được
nỗi đau. Một phần trong nhiệm vụ của nhà
tâm lư là giúp họ đối mặt với nỗi đau,
nhưng điều này cần phải được
thực hiện một cách từ từ nhằm tránh
cảm giác bị tràn ngập, chôn vùi. Chúng ta cần
tạo ra một môi trường làm họ cảm thấy
an toàn, thoải mái đủ để đối mặt
với t́nh trạng của ḿnh một cách trọn
vẹn. Một trong những cách tốt nhất để
đáp ứng với cảm xúc là lắng nghe chủ
động (active listening), đây là một kiểu phương
pháp lắng nghe nhạy bén để hiểu được
những ǵ đang ẩn sâu bên trong, hay những thông
điệp ngầm, và phản ánh lại cho thân chủ có
thể nhận thấy điều đang ẩn sâu bên
trong họ.
Sự lắng
nghe của nhà tâm lư giúp thân chủ làm rơ vấn đề
của ḿnh. Khi áp dụng lắng nghe chủ động
(active listening) nhà tâm lư thực hiện một sự bày
tỏ, thể hiện tốt hơn cách đặt câu
hỏi, điều này giúp giữ những vấn đề
của thân chủ trong phạm vi trách nhiệm của
họ, nhưng họ vẫn cảm thấy được
sự hỗ trợ của nhà tâm lư trong quá tŕnh t́m ra cách
giải quyết vấn đề của ḿnh. Nó thể
hiện sự tôn trọng, chấp nhận, tin tưởng
vào khả năng giải quyết của thân chủ. Và
đây là nguyên nhân đ̣i hỏi nhà tâm lư cần phát
triển kỹ thuật lắng nghe.
¶
Phát
triển kỹ thuật lắng nghe
¶
Kiểm
tra mức độ lo âu của thân chủ
Theo dơi mức
độ lo âu ở thân chủ, và cố gắng điều
chỉnh. Mặc dù một số những cơn lo âu có
thể là động
lực thúc đẩy họ đối mặt với
vấn đề. Tuy nhiên mục tiêu hướng đến
là điều chỉnh số lượng cơn lo âu
được biểu hiện, làm thế nào để
thể hiện, và kiểm soát chúng hiệu quả,
bởi chúng có khả năng ảnh hưởng đến
sự lựa chọn, tính quyết đoán, và tiến tŕnh
giải quyết vấn đề.
¶
Thăm
ḍ cảm xúc của thân chủ
Trong tiến tŕnh
giải quyết vấn đề cảm xúc của thân
chủ là rất quan trọng, những ṿng cảm xúc
ngắn thường xuất hiện vào thời điểm
giải quyết vấn đề, nhưng đây không
phải là biện pháp xuất hiện để giúp đỡ
thân chủ trong cơn khủng hoảng. Trong nhiều trường
hợp, đó có thể là sự hồi tưởng
lại nỗi đau mất mát quá lớn (chu tŕnh grief).
Động viện, giúp đỡ thân chủ vượt
qua cảm xúc về nỗi đau mất mát này, và chu tŕnh
grief sẽ hoàn tất.
Thân chủ
sẽ bộc lộ rất nhiều cảm xúc, chia sẻ
nỗi đau mà họ đang mang, những lo lắng trong
quá tŕnh thực hiện các bước giải quyết
vấn đề, những
cảm xúc quay trở về khi họ phải đối
mặt với vấn đề và giải quyết chúng…
Chúng ta có thể giúp họ phân loại những cảm xúc
và nhận ra phần lớn trong chúng là cấp tính. Hăy
lắng nghe và đáp ứng với họ bằng cả
ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ, giúp họ nhận ra viễn
cảnh sau khi giải quyết thành công vấn đề,
đưa những phản hồi, động viên, thúc
đẩy làm tăng năng lực bằng việc
nhắc nhở họ nh́n lại những việc họ
đă hoàn thành tốt. Luôn đặt câu hỏi “chúng
ta đă làm được ǵ ?” “anh/chị cảm
thấy như thế nào?”… để họ bộc
lộ những cảm xúc, đánh giá được nguy cơ,
và có bước chuẩn bị để ngăn chặn,
giải quyết.
Nâng
cao ḷng tự tôn (self-esteem)
Ḷng tự tôn
bao gồm: sự tự nhận thấy giá trị
(self-worth), năng lực (self-competence), và sự tự
chấp nhận (self-acceptance) bản thân. Mục tiêu
của bước thứ bảy này bao gồm: (1) đánh
giá và hiểu được sự tự nhận
thức, h́nh ảnh bản thân (self-image) và (2) khám phá ra
khủng hoảng đă tác động như thế nào và
cá nhân đă làm ǵ cũng sẽ tác động đến
sự tự nhận thức về h́nh ảnh bản thân.
Đây là thời điểm bảo vệ và nâng cao
sự tự nhận thức về h́nh ảnh bản thân,
bởi trong suốt giai đoạn khủng hoảng là
sự lo âu, ḷng tự tôn bị hạ thấp, cảm giác
tuyệt vọng, thất bại, mặc cảm có lỗi.
Một trong những cách đáp ứng về cảm xúc
của ḷng tự tôn thấp là giận dữ với người
khác hay với chính bản thân ḿnh, sự tuyệt
vọng do không yêu cầu được giúp đỡ và
thụ động tiêu cực chỉ ngồi yên chờ
đợi sự giúp đỡ.
Điều quan
trọng đầu tiên trong việc hỗ trợ thân
chủ nâng cao sự tự nhận thức về h́nh
ảnh bản thân, xây dựng ḷng tự tôn chính là thái
độ và cách cư xử trong quá tŕnh làm việc
với nhà tâm lư:
-
Sự tôn trọng, chấp nhận
vô điều kiện, không phán xét, và tin tưởng vào
thân chủ.
-
Hỗ trợ họ nhận ra
những mục tiêu, sự mong đợi thiết thực
và sự giới hạn trong việc hoàn thành những
mục tiêu..
-
Giúp họ nhận thấy những
điều họ đang có, những điểm mạnh.
-
Giúp họ lập danh sách những
nguồn lực có thể sử dụng hỗ trợ
họ nâng cao ḷng tự tôn một cách lành mạnh.
-
Hỗ trợ họ nhận ra
mức độ của sự mong muốn thay đổi và
phát triển tổ chức, cơ cấu giải quyết
vấn đề… những điều mà họ có
thể tận dụng hướng đến hoàn thành
mục tiêu.
-
Động viên, khuyến khích
hỗ trợ thân chủ đối mặt với
những khó khăn.
-
Ngăn chặn việc lập
lại những suy nghĩ tiêu cực đưa đến
hành vi tiêu cực.
-
Hỗ trợ thân chủ tăng
sự tự nhận thức bản thân (self-awareness): (1)
viết nhật kư, (2) bày tỏ những suy nghĩ và
cảm xúc của ḿnh.
-
Hỗ trợ họ tăng sư
tự chấp nhận bản thân (self-acceptance): (1) nhận
ra hệ thống giá trị và niềm tin của bản thân,
(2) khuyến khích sự quan tâm một cách tích cực, khách
quan đến việc tự đấu tranh chống
lại cảm giác bị hắt hủi, bỏ rơi. Hướng
dẫn cho họ thấy được sự tương
tác giữa việc tự nói (self-talk) tiêu cực có
ảnh hưởng đến ḷng tự tôn. Học cách
tự chấp nhận bản thân.
-
Sự đánh giá khách quan, chân
thật về những điều tích cực, tiêu cực
trong cuộc sống. Tập trung vào những điều tích
cực, nh́n lại những thất bại như một cơ
hội để học hỏi, trưởng thành.
-
Cho thân chủ những phản
hồi tích cực và thúc đầy sự tăng năng
lực (reinforcement).
Nâng
cao sự tự lực, độc lập, tự dựa vào
khả năng và nỗ lực của bản thân
(self-reliance)
Là bước
thứ 8 trong tiến tŕnh can thiệp, được
thực hiện gần như song hành cùng mục tiêu nâng
cao sự tự nhận thức về h́nh ảnh bản
thân. Nâng cao khả năng
tự lực trước hết phải cải thiện
sự tự nhận thức về bản thân, sự
tự tin (self-confident), tự nhận thấy giá trị
(self-worth), năng lực (self-competence), và tự chấp
nhận bản thân, khi những điều này được
cải thiện, ḷng tự tôn được nâng cao
sẽ thúc đẩy cá nhân, tăng cường tính độc
lập, tin tưởng vào khả năng và nỗ lực
của bản thân trong việc đối mặt và
giải quyết những khó khăn trong cuộc sống.
Giải quyết thành công (đạt được
mục tiêu đề ra trong khả năng của bản
thân) những vấn đề trong cuộc sống làm tăng
thêm ḷng tự tôn.
¶
Xây
dựng các nhóm hỗ trợ:
Xu hướng
chỉ tập trung tin vào, cậy nhờ nhà tâm lư, và xem
đây là người duy nhất hỗ trợ hiệu
quả cho bản thân thường được sử
dụng bởi các thân chủ, điều này gây ra t́nh
trạng lệ thuộc, làm giảm tính tự lập. Nhà
tâm lư cần làm rơ cho thân chủ hiểu, nhà tâm lư không
thể đáp ứng tất cả các câu trả lời
của họ, và tiến tŕnh can thiệp tâm lư sẽ
chấm dứt. Điều quan trọng là động viên,
khuyến khích họ tin tưởng, bắt đầu
đảm trách, tự thực hiện những công
việc nhỏ với mục tiêu đơn giản và
thực hiện thành công. Những thành công này giúp
củng cố thêm sự tự tin, khả năng tự
lập, tự chịu trách nhiệm về ḿnh..
¶
Cổ
vũ, động viên, khuyến khích sự tự giúp
đỡ bản thân (self-help):
Một trong
những nguyên tắc cơ bản của can thiệp
khủng hoảng là: không giúp thân chủ làm bất
cứ điều ǵ mà họ có thể tự thực
hiện một cách thành công. Nếu có một sự
chọn lựa giữa việc nhà tâm lư hay thân chủ là
người thực hiện cuộc gọi, và thân chủ
hoàn toàn có khả năng thực hiện, vậy hăy để
thân chủ thực hiện điều đó. “…Quan
điểm của nhà tâm lư là thân chủ là người
có năng lực, khả năng, một người
tốt, người hiện đang tạm thời bị
chôn vùi bởi những đau khổ quá mức, người
sẽ sử dụng sự giúp đỡ của nhà tâm lư
để ứng phó với những đau khổ ấy và
quay trở lại “con đường” của ḿnh”
(Douglas Puryer). Quan điểm chỉ rơ, chính thân chủ là
người ứng phó với vấn đề của ḿnh
dưới sự hỗ trợ của nhà tâm lư, nhà tâm lư
không ứng phó giúp cho họ. Khi cố gắng ứng phó
với những đau khổ của khủng hoảng,
cảm xúc của họ sẽ rơi xuống sâu hơn.
Họ có thể có cách ứng phó đe dọa đến
những nguồn lực an toàn trước đây và
cảm thấy như sắp “vỡ tan”, mất mát,
những lo âu, bối rối mới có thể h́nh thành. V́
những chuyển biến của khủng hoảng, thân
chủ có thể thực hiện những quyết định
mới, nghĩ ra cách giải quyết mới, t́m nguồn
lực mới và có thể di chuyển đến những
vai tṛ mới. Với cách giải quyết và vai tṛ
mới, được tập họp lại và tiến hành
có thể gây một vài stress cho bản thân, bởi
những thay đổi về vị thế và chức
vụ trong gia đ́nh và cộng đồng, bao gồm
việc chấp nhận cách giải quyết mới
mức độ hài ḷng, thoải mái của cách giải
quyết này, những bài học từ cuộc sống… Tuy
nhiên, sự thích nghi với cách giải quyết và vai tṛ
mới sẽ xuất hiện, ít nhất cho đến khi
những vai tṛ và kết quả của việc giải
quyết các vấn đề được ổn định.
Tuy nhiên không
phải trường hợp khủng hoảng nào cũng
cần đến sự can thiệp của nhà tâm lư, và
những trường hợp cần đến sự can
thiệp của nhà tâm lư không nhất thiết đang
trong t́nh trạng nguy kịch bởi thân chủ có thể
sử dụng các dịch vụ hỗ trợ tâm lư như
một trong nhiều nguồn lực hỗ trợ khác trên
“con đường” giải quyết vấn đề
của ḿnh, và trong nhiều trường hợp khủng
hoảng được can thiệp, có một số cá nhân
cần được hỗ trợ về mặt y khoa,
được “giám sát” do có xu hướng thực
hiện những hành vi gây hậu quả nguy hiểm.
Một trong những điều cần lưu ư khi can
thiệp khủng hoảng là việc phát hiện, ngăn
chặn, đẩy lùi những hành vi mang lại kết
quả nguy hiểm này và đặt thân chủ trong
phạm vi an toàn. Trong những hành vi tác động tiêu
cực lên thân chủ trong tiến tŕnh can thiệp thường
gặp là việc sử dụng các chất như một
cách “tự chữa bệnh” nhằm xoa dịu những
đau khổ phải chịu đựng trong cơn
khủng hoảng như: lạm dụng rượu, các
chất kích thích, chất an dịu thần kinh…, tham gia vào
các tṛ chơi cảm giác mạnh có thể gây nguy
hiểm (như đua xe, …), th́ việc xuất hiện
những ư nghĩ tự sát như một cách giải
quyết nhằm chấm dứt vĩnh viễn t́nh
trạng đau khổ kéo
dài, được đánh giá là đặc biệt nghiêm
trọng bởi đây là sự lựa chọn măi măi không
thể cứu văn, thay đổi. AAS khẳng định: “Khủng hoảng là
nhất thời và cái chết là măi măi”. Chính v́
vậy, việc phát hiện và ngăn chặn ư định
tự sát trên những thân chủ đang trong suốt quá
tŕnh can thiệp là cần thiết.
Ư tưởng
tự sát có thể xuất hiện vào bất cứ giai
đoạn nào trong tiến tŕnh can thiệp, trong sự
thay đổi của chuổi diễn biến khủng
hoảng kèm theo những thay đổi cảm xúc. Đôi
khi chỉ dừng lại là những ư tưởng, đôi
khi là những kế hoạch được chuẩn
bị tỉ mỉ và cả những lần toan tự sát
bất thành… đưa đến những mức độ
nguy cơ tự sát thành công khác nhau, nhưng khó có
thể chắc chắn rằng một người có ư
định tự sát th́ có nguy cơ thấp, ít nguy
hiểm hơn một người đă chuẩn bị
kế hoạch… V́ vậy khi thân chủ đề
cập (bằng lời nói hay không bằng lời nói)
đến cái chết hăy thật sự quan tâm đến
điều đó và thiết lập ngay một hệ
thống hỗ trợ cho trường hợp khẩn
cấp của thân chủ.
Là một
việc làm cần thiết, tuy không phải trường
hợp khủng hoảng nào đến với sự
hỗ trợ tâm lư cũng mang ư định tự sát nhưng
việc phát hiện và can thiệp kịp thời nhằm
mục tiêu bảo vệ thân chủ trước những
tiềm năng nguy hiểm có thể dự báo, đây là
công việc, trách nhiệm và lương tâm nghề
nghiệp của nhà tâm lư.
Phát
hiện ư định tự sát ở thân chủ
Hàng loạt các
bảng liệt kê những dấu hiệu nhằm hỗ
trợ việc phát hiện sớm tự sát được
các nhà tâm lư (William Zung, Sharon L Johnson, Dave Capuzzi…),
nhiều tổ chức nghiên cứu (AFSP, AAS, Healthlife, The
centre for crisis psychology…) được đúc kết. Tuy
nhiên các dấu hiệu cảnh báo đơn lẻ này
cần kết hợp với nhiều yếu tố khác như:
nhân cách của của cá nhân (xu hướng, động
cơ, tính cách, khí chất, năng lực), tiền sử
gia đ́nh, tiền sử bệnh, quá tŕnh phát triển
của bản thân, những kinh nghiệm từng trải,
nguồn lực ứng phó, hoàn cảnh sống, các hệ
thống hỗ trợ… để đánh giá nguy cơ
tự sát một cách đầy đủ và chính xác.
Tổ chức
AFSP: Tự sát có thể
được ngăn chặn, trong khi một số ít
những trường hợp tự sát không có bất
cứ dấu hiệu nào, th́ phần lớn (75%) những
người muốn tự sát luôn đưa ra những
dấu hiệu cảnh báo bằng cách này hay cách khác, tuy
nhiên c̣n tùy thuộc vào những người xung quanh
họ có nhận ra và thực sự quan tâm đến
những dấu hiệu của họ hay không.
Những dấu
hiệu này thường xuất hiện sau, gần với
một số sự kiện gây đau khổ (mất người
thân yêu), thất bại (trong công việc, trong cuộc
sống, những ước mơ).
Các dấu hiệu có thể quan sát
được về khí sắc:
- Khí sắc giảm không ngừng, liên tục, ngày càng
trở nên trầm buồn, lặng lẽ.
- Tính bi quan, yếm thế.
- Tuyệt vọng.
- Sự liều lĩnh tuyệt vọng.
- Lo âu, nỗi đau tinh thần và căng thẳng bên
trong.
- Rút lui khỏi các mối quan hệ gia đ́nh,
nghề nghiệp, bạn bè, xă hội.
- Những vấn đề về giấc ngủ
(thiếu ngủ, mất ngủ, ngủ li b́…)
Tăng hoặc bắt đầu sử
dụng các chất cồn (rượu), thuốc (an
thần, chất gây nghiện)
Gần đây xuất hiện những
xung động, thôi thúc bốc đồng và tự
mang đến những rủi ro
nguy hiểm không cần thiết
Đe dọa tự sát
hay bộc lộ một mong muốn
mạnh mẽ là được chết
Lập kế hoạch: Cho, tặng, ban phát
các vật yêu thích thuộc sỡ hữu của
bản thân. Đột nhiên hay có xung động mua
sắm những vật có tính sát thương như súng,
hay lưu giữ thuốc độc, các loại
thuốc khác.
Những cơn thịnh nộ, giận
dữ không mong đợi, không thể kiểm soát.
Tổchức
AAS đă đưa
ra những dấu hiệu cảnh báo được
viết tắt là:
IS
PATH WARM?
Ideation: ư tưởng ư nghĩ
Substance Abuse: lạm dụng
chất
Purposelessness: không mục
đích sống, bất định không phương hướng
Anxiety: lo âu, bối rối,
bất an, rối loạn giấc ngủ.
Trapped: bị mắc
kẹt, như rơi vào bẫy, cảm giác cố vùng
vẫy như càng sâu không thể thoát.
Hopelessness: tuyệt vọng
Withdrawal: rút lui khỏi các
mối quan hệ gia đ́nh, nghề nghiệp, bạn bè,
xă hội.
Anger: giận dữ
Recklessness: liều lĩnh, táo
bạo
Mood Changes: thay đổi khí
sắc nhanh chóng (một cách kịch tính). Khí sắc là
yếu tố dễ nhận thấy, sự thay đổi
khí sắc cần được chú ư như: trở nên
lặng lẽ, buồn bă hơn, hoặc ngược
lại trở nên vui vẻ, phấn khởi, nhẹ nhơm như
mọi thứ đă được giải quyết (trường
hợp này thường xuất hiện trong giai đoạn
giải quyết vấn đề của tiến tŕnh can
thiệp)…
Tuy nhiên,
những dấu hiệu trên có ư nghĩa cảnh báo nguy cơ
tự sát không c̣n tùy thuộc vào khả năng đánh giá
chủ quan của từng người (khả năng quan sát,
nhạy bén, và sự quan tâm đúng mức đến các
dấu hiệu). Tác giả William Zung đă đưa ra
một bảng thống kê các câu hỏi, dưới
dạng các câu hỏi phỏng vấn với 50 đề
mục, nhằm đánh giá tiềm năng tự sát ở
một người, bảng đánh giá này vừa mang tính
chủ quan (do sự trả lời, tự đánh giá
của thân chủ, nhận định của nhà tâm lư),
vừa mang yếu tố khách quan (được đánh
giá thông qua điểm số sau khi xử lư các câu
trả lời).
Như vậy,
việc phát hiện một thân chủ trong tiến tŕnh
can thiệp khủng hoảng có ư định tự sát
đ̣i hỏi sự nhạy bén của nhà tâm lư, quan sát
phát hiện càng sớm, ngăn chặn kịp thời th́
khả năng tránh được kết quả tiêu
cực càng cao. Nổi bật nhất trong các dấu
hiệu tự sát là những dấu hiệu về khí
sắc và cảm xúc của thân chủ, theo đó là
những suy nghĩ, và hành vi của họ. Họ luôn báo
hiệu bằng một cách nào đó cho người bên
cạnh biết: đó có thể là những dấu
hiệu mong muốn thu hút sự quan tâm của người
khác, nhưng cũng có thể là lời chào vĩnh
biệt… v́ vậy sau khi phát hiện cần có sự
đánh giá nguy cơ, mức độ gây nguy hiểm cho
bản thân và người khác ở thân chủ nhằm có
sự can thiệp nhanh chóng, phù hợp.
Thông thường
việc thăm ḍ và đánh giá nguy cơ nguy hiểm
được tổng hợp từ nhiều yếu
tố như:
Đánh giá mức độ nguy cơ
thấp nhất được xem là chỉ mới có ư
định tự sát, nguy cơ cao hơn ở những thân
chủ có kế hoạch tự sát và càng cao ở các
kế hoạch tự tự được sắp xếp
rơ ràng, chi tiết, khả thi, chuẩn bị sẵn các phương
tiện hỗ trợ việc tự sát (hay sử dụng
các phương tiến có sẵn, thuận tiện), nguy
hiểm nhất là những trường hợp đă
từng toan tử tử, hay có tiền sử tự sát nhưng
thất bại. Nhưng đôi khi khó mà khẳng định
chắc chắn rằng một thân chủ mới có ư tưởng
tự sát th́ ít nguy hiểm hơn là một thân chủ
đă có kế hoạch tự sát hay toan tự sát,
bởi những sự tác động các yếu tố khách
quan và những cảm xúc khó kiểm soát trong t́nh
trạng khủng hoảng có thể làm xuất hiện
những xung động tự sát bất ngờ. Tuy nhiên,
ngoài yếu tố đánh giá nguy cơ theo các mức
độ tự sát th́ cần xem xét những yếu
tố cá nhân cũng góp phần quan trọng trong việc
dự đoán nguy cơ thực hiện hành vi tự sát và
khả năng thành công của hành vi.
Nhân cách (xu hướng, động
cơ, khí chất, tính cách, năng lực), vd: những cá
nhân có khí chất ưu tư nổi bật có nguy cơ
cao hơn nhóm khác bởi khả năng xuất hiện
những xung động tự sát, hay cá nhân có xu hướng
nghĩ đến tự sát như cách lựa chọn
đầu tiên để giải quyết trước
những đau khổ khó khăn trong cuộc sống.
Quan điểm của bản thân
chịu chi phối của sự giáo dục gia đ́nh,
niềm tin tôn giáo…
Hoàn cảnh sống, môi trường sống, lưu ư tính sẵn có,