www.tamlytrilieu.com
Dissociation
and Multiple Personalities
SỰ PHÂN LY VÀ T̀NH TRẠNG ĐA NHÂN CÁCH
Bản dịch của BS. Nguyễn Minh Tiến
(Nguồn: David G. Myers – Psychology – Seventh Edition, Worth Publishers)
Trong số các rối
loạn tâm thần hiếm gặp và thu hút sự quan tâm
nhiều nhất, có một t́nh trạng được
gọi tên là rối loạn
phân ly (dissociative disorders). Người bị rối
loạn ấy có thể trải qua t́nh trạng đột
ngột bị mất trí nhớ hoặc tự nhiên thay
đổi hẳn về mặt bản sắc (identity). Con
người thường “tự phân ly bản thân ḿnh”
khi đứng trước một hoàn cảnh gây stress quá
sức chịu đựng. Khi đó ư thức của người
đó sẽ được cách ly với những ǵ đau
thương nhất, cả trong kư ức, suy nghĩ và
cảm xúc (Cách lư giải này thừa nhận sự
tồn tại của những kư ức bị dồn nén,
nghĩa là thừa nhận sự tồn tại của vô
thức).
Một số triệu
chứng của t́nh trạng phân ly thực sự không
phải là hiếm gặp. Đó đây vẫn có
nhiều người có cảm nhận về bản thân ḿnh
như là không có thực, hoặc cảm giác về tâm trí
ḿnh bị tách rời khỏi thân thể, hoặc có người
tự quan sát bản thân ḿnh như một nhân vật
trong một cuốn phim... Một người có thể lên
xe và đi đến một nơi nào đó không định
trước trong khi đầu óc th́ hoàn toàn nghĩ đến
một nơi khác. Khi đương đầu với
một sang chấn, một sự phân tách như thế có
thể thực sự giúp bảo vệ cho đương
sự tránh khỏi t́nh trạng bị tràn ngập bởi
các xúc cảm. Chỉ khi những trải nghiệm như
thế có tính chất nghiêm trọng và kéo dài th́ người
ta mới gọi đó là rối loạn phân ly.
Đặc biệt nhất
trong số các rối loạn phân ly là t́nh trạng có tên
rối loạn bản sắc
phân ly (dissociative identity disorder), trong đó có sự phân
ly toàn bộ bản ngă ra khỏi phần ư thức thường
ngày của đương sự. Những người này
được cho là có từ hai hoặc nhiều hơn
hai “nhân thân” khác nhau (tức các phần nhân cách có
bản sắc khác nhau) mà các phần này luân phiên nhau
kiểm soát các hành vi của đương sự.
Những người bị chứng rối loạn này có
thể lúc này th́ nghiêm túc và chuẩn mực, nhưng lúc
khác th́ lại nhí nhố, lăng nhăng. Mỗi một
nhân cách sẽ có tác phong và ngôn phong riêng của nó, và
một cách đặc trưng th́ nhân cách gốc ban đầu
sẽ chối bỏ không thừa nhận những nhân cách
khác đang cùng tồn tại.
Mặc dù những người
được chẩn đoán là đa
nhân cách (multiple personalities) thường không có hành vi
bạo lực, nhưng cũng có những trường
hợp được báo cáo trong đó đương
sự bị phân ly thành hai nhân cách “tốt” và
“xấu” (hung hăng) – giống như nhân vật
bị phân tách làm hai Tiến sĩ Jekyll và Ông Hyde trứ
danh trong câu truyện của Robert Louis Stevenson. Freud hẳn cũng
sẽ cho rằng khi loại bỏ được sự
nhận biết có ư thức của phần nhân cách ban
đầu vốn là “tốt”, phần nhân cách thứ
hai với tính chất “xấu” sẽ tự do phóng thích
các xung năng mà trước đó đă bị ư
thức cấm cản. Sự diễn giải này dường
như phù hợp với Kenneth Bianchi, một con người
bất thường đă bị đưa ra ṭa như
một kẻ chuyên gây án theo kiểu “bóp cổ trên sườn
đồi”, kẻ đă từng cưỡng bức và
giết chết mười phụ nữ ở bang
California, Hoa Kỳ. Trong một buổi thực hiện thôi
miên cho Bianchi, nhà tâm lư John Watkins (1984) đă “gọi
được” một nhân cách đang bị ẩn
giấu của anh ta:
Tôi
đă nói chuyện một ít với Ken, nhưng tôi nghĩ
rằng có thể đă có một phần khác của Ken mà
tôi đă không thể nói chuyện được, một
phần được cảm nhận như có chút ǵ
đó hơi khác với cái phần mà tôi đă nói
chuyện... Khi tôi hỏi ‘‘Anh nói chuyện với tôi
chứ?” Bianchi trả lời “Vâng”, nhưng sau đó
tự nhận tên ḿnh là “Steve”.
Khi nói chuyện như là
một người tên Steve, Bianchi đă nói anh ta (Steve) ghét
Ken (cũng chính là Bianchi), bởi v́ Ken là người
tốt, c̣n Steve với sự trợ giúp của một người
bà con mới chính là kẻ đă giết chết những
phụ nữ. Steve cũng cho rằng Ken chẳng biết ǵ
về sự hiện diện của Steve cả và Ken vô
tội không phải là kẻ giết người. Liệu
rằng cái nhân cách thứ hai của Bianchi có phải là
một tṛ bịp bợm và chạy tội cho những hành
động của anh ta hay không? Câu trả lời là “Đúng”.
Bianchi, một “chuyên gia nói dối”, một người
đă từng đọc các sách tâm lư học viết
về đề tài đa nhân cách, và anh ta sau đó đă
bị kết án.
Trong khi khảo sát khả
năng của con người trong việc chuyển đổi
nhân cách, Nicholas Spanos (1986, 1994, 1996) đă yêu cầu
một số sinh viên đại học giả định
là họ đang bị kết tội là kẻ sát nhân và
đang được khám xét bởi một bác sĩ tâm
thần. Khi những sinh viên ấy được trải
qua sự thôi miên tương tự như cách đă làm
với Bianchi, hầu hết trong họ đều tự
nhiên thể hiện ra một nhân cách thứ hai. Khám phá này
khiến cho Spanos đặt câu hỏi: Phải chăng
những “bản sắc” (identity) khác nhau là những phiên
bản “cực đoan” hơn của những khả năng
b́nh thường ở con người trong việc thay
đổi những cái “ngă” khác nhau mà chúng ta vẫn thường
thể hiện – chẳng hạn như ta vẫn thường
thể hiện cái tính cách “ngông nghênh”, “quậy phá”
khi bù khú với bạn bè, trong khi đó lại thể
hiện một cách ngă rất dịu dàng, tôn kính khi
ở cạnh ông bà, cha mẹ? Liệu rằng những nhà
lâm sàng đă phát hiện ra t́nh trạng đa nhân cách
chỉ v́ họ đă kích hoạt khả năng diễn
xuất một vai tṛ nào đó ở những người
có xu hướng hay huyễn tưởng (fantasy-prone)?
Nếu điều ấy đúng, liệu những người
này sau đó có tự thừa nhận rằng thực
sự họ chỉ diễn xuất các vai tṛ của chính
họ mà thôi? Họ có giống như các diễn viên không,
v́ những người này vẫn có lúc thấy ḿnh
“tự đánh mất bản thân” trong các vai diễn?
Những tác giả nào công
nhận t́nh trạng bản sắc bị phân ly (dissociative
identity) thực sự là một rối loạn có thể t́m
thấy những bằng chứng hỗ trợ cho quan điểm
của họ trong các trạng thái hoạt động
của năo bộ và cơ thể trong những nhân cách khác
nhau (Putnam, 1991). Khuynh hướng hoạt động
bằng một tay (handedness) đôi khi cũng làm chuyển
đổi nhân cách (Henninger, 1992). Những kư ức mơ màng
về những trải nghiệm của nhân cách này đôi
khi không thể chuyển sang cho một nhân cách khác (Eich,
1997). Trong một nghiên cứu của một số bác sĩ
nhăn khoa, người ta nhận thấy rằng sự tinh
tế về thị lực và sự cân bằng hoạt
động của các cơ vận nhăn có thể bị
thay đổi khi người bệnh bị chuyển đổi
nhân cách. Những thay đổi này không xảy ra trong
số những đối tượng nghiên cứu
thuộc nhóm đối chứng đang cố giả
vờ có t́nh trạng đa nhân cách (Miller, 1991).
Những người hoài
nghi th́ vẫn có những nghi ngờ về việc t́nh
trạng đa nhân cách đă trở nên phổ biến hơn
trong thời gian cuối thế kỷ 20. Ở khu vực
Bắc Mỹ, số lượng các trường hợp
được chẩn đoán từ khoảng 2 ca mỗi
thập niên (trong khoảng thời gian 1930-1960) tăng lên
đến 20.000 trường hợp chỉ trong thập niên
1980 (McHugh, 1995a). Số lượng các nhân cách được
thể hiện cũng tăng vọt từ 3 lên đến
12 nhân cách trên mỗi bệnh nhân (Goff & Sims, 1993).
Bằng cách nào mà một loại rối loạn rất có
ấn tượng như thế lại có thể trải
qua một thời gian dài không được chú ư đầy
đủ như vậy? Liệu sự gia tăng đột
biến các ca được chẩn đoán có phải là
do ảnh hưởng bởi các sách vở và phim ảnh
về trạng thái đa nhân cách đă được phát
hành trong thời gian đó? Trong khi đó ở khu vực
Nam Mỹ, nhiều thầy thuốc lâm sàng đă chẳng
hề gặp phải một trường hợp phân ly
bản sắc nào và rối loạn này hầu như
được xem là không tồn tại, mặc dù ở
một số nước, có một số người
đă được cho là “sở hữu” thêm một
“tinh thần lạ” (alien spirit) (Altridge-Morris, 1989; Kuft,
1991). Ở Anh, chẩn đoán đa nhân cách được
xem là hiếm và là một “thói dở hơi theo kiểu
Mỹ” (a wacky American fad) (Cohen, 1995). Tại Ấn Độ
và Nhật Bản, rối loạn này được xem là
không tồn tại.
Đối với những
người hoài nghi, những phát hiện này cho thấy
đây là một hiện tượng có tính văn hóa –
nghĩa là một loại rối loạn được
tạo dựng nên bởi các nhà trị liệu trong
một bối cảnh xă hội đặc thù nào đó
(Merskey, 1992). Những bệnh nhân khi tham gia vào
việc trị liệu đă không thể nói rằng “Cho phép tôi tự
giới thiệu về bản thân ḿnh”, mà thay v́
vậy, những nhà trị liệu đă “thả câu”
(go fishing) để t́m kiếm t́nh trạng đa nhân cách
thông qua những câu hỏi như “Bạn có bao giờ
cảm thấy một thành phần khác trong con người
bạn làm những điều mà bạn không thể
kiểm soát được? Thành phần này của
bạn có một tên gọi riêng không? Liệu tôi có
thể nói chuyện với với cái con người đang
giận dữ bên trong bạn không?” Một khi bệnh nhân
cho phép nhà trị liệu nói chuyện, bằng tên riêng,
với “con người đang nói ra những điều
giận dữ ấy bên trong bệnh nhân” th́ bệnh nhân
sẽ bắt đầu thể hiện cái huyễn tưởng
ấy ra bên ngoài thông qua những hành động của
họ (acting out the fantasy). Kết quả có thể dẫn
đến một hiện tượng có thật là
bệnh nhân có thể trải nghiệm về bản thân
ḿnh với một bản ngă hoàn toàn khác. Tuy nhiên,
những người hoài nghi nói rằng cũng chẳng
phải là điều trùng hợp khi mà các nghiên cứu
về đa nhân cách đă bắt đầu được
thực hiện bởi những nhà thực hành thôi miên và
rằng các triệu chứng thường thể hiện
ngoạn mục nhất sau
khi bắt đầu trị liệu (Goff, 1993; Piper,
1998).
Trong rối loạn phân ly
cũng như các rối loạn lo âu, cả trường
phái phân tâm lẫn những người theo lư thuyết
học tập (learning perspective) đều cho rằng các
triệu chứng là những cách thức mà đương
sự sử dụng để đương đầu
với sự lo âu. Các nhà phân tâm xem triệu chứng như
là cơ chế pḥng vệ chống lại lo âu gây ra
bởi sự tuôn trào của các xung năng không thể
chấp nhận được. Các tác giả theo lư
thuyết học tập lại xem chúng như những hành
vi được củng cố bằng hiệu quả làm
giảm lo âu của chúng.
Một số tác giả khác
xem rối loạn phân ly như là các rối loạn sau
sang chấn tâm lư (post-traumatic disorders) – một cách
thức đáp ứng tự nhiên và có tính bảo vệ
đối với “lịch sử các sang chấn thời
thơ ấu” (Putnam, 1995). Các nhà nghiên cứu vẫn c̣n
đang tranh luận về việc liệu những bệnh
nhân có rối loạn bản sắc phân ly đă từng
có t́nh trạng bị xâm hại về thể chất, t́nh
dục hoặc tinh thần lúc thơ ấu hay không (Greaves,
1996; Lilienfeld, 1999). Một cuộc nghiên cứu trên 12
kẻ sát nhân được chẩn đoán là có rối
loạn bản sắc phân ly đă cho thấy có 11 trường
hợp trong số đó đă từng bị xâm hại
nghiêm trọng lúc c̣n nhỏ (Lewis, 1997). Một trường
hợp đă bị cha mẹ của ḿnh châm lửa đốt;
một trường hợp khác đă từng bị
sử dụng vào những tṛ chơi khiêu dâm trẻ em và
đă từng hoảng sợ khi bị đặt ngồi
lên một bếp ḷ đang cháy. Khi ấy, t́nh trạng
đa nhân cách có thể là sự cố gắng một cách
tuyệt vọng của những nạn nhân muốn
lẫn trốn vào bên trong (to flee inward).
Nhưng những người
hoài nghi lại thắc mắc thế th́ tại sao
những trẻ em sống sót từ các cuộc thảm sát
người Do Thái, từ các trại tập trung phát xít và
chứng kiến cha mẹ bị giết hại lại không
phát sinh các chứng rối loạn bản sắc phân ly?
Liệu rối loạn này có phải đă được
tạo nên bởi những người có xu hướng
huyễn tưởng và dễ thay đổi về cảm
xúc hay là đă được tạo dựng nên từ
trong các tương tác giữa bệnh nhân và nhà trị
liệu? Nếu thế, sẽ không có sự cảm thông nào
trong phán xét của lịch sử. Chuyên gia tâm thần
học Paul McHugh (1995b) tiên đoán rằng “trận
dịch này” sẽ chấm dứt theo cách thức mà thói
đam mê tṛ phù thủy đă kết thúc ở Salem.
Hiện tượng đa nhân cách sẽ được
xem như một sản phẩm nhân tạo và cách giải
thích về một “kư ức bị dồn nén” là
một điều sai lầm, c̣n các bác sĩ tâm thần
sẽ không c̣n áp dụng những phương pháp
thực hành dễ tạo ra những chứng bệnh không
thật như thế nữa...