www.tamlytrilieu.com
STRESS
LÀ G̀?
Phần I
Không giống như những thói quen về
sức khỏe có thể trực tiếp đưa
những tác nhân gây biến đổi t́nh trạng
sức khỏe vào trong cơ thể,
stress
chỉ các thay đổi về tâm sinh lư
xảy ra nhằm đáp ứng các với các kích thích
được cơ thể nhận biết là đe
dọa hoặc có hại.
Những điều mà chúng ta nghĩ đến và cách
thức mà chúng ta cảm thấy đều có ảnh hưởng
đến sức khỏe; tâm trí và thân thể liên
hệ với nhau một cách mật thiết. Trong bài
viết này, chúng ta sẽ xem xét khái niệm về stress và
những tác động của nó đối với
sức khỏe và bệnh tật.
ĐỊNH
NGHĨA STRESS
Stress
là một khái niệm khó nắm
bắt. Nó đă được định nghĩa theo
nhiều cách: như một
tác nhân môi trường,
một đáp ứng sinh lư, và như
một quá tŕnh nhận
thức - hành vi.
Các định nghĩa này đều tập trung vào
một b́nh diện cơ cấu (organizational level) nào
đó và loại bỏ một cách tương đối
những b́nh diện khác; và điều này đă dẫn
đến nhiều sự nhầm lẫn. Mỗi một
định nghĩa đơn b́nh diện (single-level)
này sẽ được xem xét một cách vắn tắt
để đưa những lư thuyết và nghiên cứu
liên quan đến stress vào những bối cảnh
lịch sử cụ thể. Mỗi một trong số
những cách nh́n này đều không đầy đủ.
Khái niệm về stress vốn dĩ là một
khái niệm đa b́nh diện
(multilevel), nó bao gồm
những đáp ứng thuộc về cảm xúc, hành vi và
sinh lư của cơ thể thông qua sự tương giao
với môi trường. Sau khi những lư thuyết trên
từng b́nh diện được xem xét, một cách nh́n
tổng hợp về stress sẽ được tŕnh bày.
Stress
- Một đáp ứng sinh học
Quan niệm về stress liên quan đến
sức khỏe thể chất đă bắt nguồn
từ các nhà sinh học. Theo cách nh́n sinh học, stress
được định nghĩa là một hội
chứng đặc hiệu bao gồm tất cả
những thay đổi được gây ra một cách không
đặc hiệu bên trong hệ thống sinh học (Selye,
1956). Stress là một đáp ứng sinh lư có tính không đặc
hiệu, xét về cả nguyên nhân lẫn kết quả.
Bất cứ sự kiện nào đ̣i hỏi sự thích
ứng đều làm khởi phát các đáp ứng sinh lư
đặc trưng cho stress. Những đáp ứng này cũng
có tính không đặc hiệu; các loại sự kiện
gây stress khác nhau đều dẫn đến những
biến đổi tương tự nhau. Chúng ta hăy xem xét
tóm tắt những đáp ứng sinh lư được dùng
để định nghĩa stress.
Trong khi Selye (1956) lần đầu tiên
đưa ra khái niệm về stress, Cannon (1927) là nhà
nghiên cứu đầu tiên mô tả một cách khái quát
một phản ứng đối với sự đe
dọa mà ông gọi là phản ứng
“chống hoặc chạy”
(fight or flight). Cannon cho rằng khi
một sinh vật đương đầu với một
sự đe dọa cho sự sống c̣n của ḿnh, th́ các
biến đổi sinh lư sẽ xảy ra theo một mô h́nh
đă được “cài đặt” sẵn. Có sự
gia tăng nhịp tim, huyết áp và hô hấp. Máu
được phân bố đến các bắp cơ
lớn và các quá tŕnh tiêu hóa bị ngưng lại.
Những thay đổi này nhằm chuẩn bị cho cơ
thể sinh vật ấy thực hiện được
những hành động mạnh mẽ nhằm đáp
ứng với sự đe dọa: hoặc chống
trả, hoặc “cao chạy xa bay”. Sự khuấy động
ấy là một khả năng hoạt hóa đă được
cài đặt sẵn bên trong cơ thể sinh vật,
tạo nên cơ may sống c̣n của nó dưới
những điều kiện đe dọa. Tất cả chúng
ta đều từng trải qua sự kích hoạt này. Ngay
sau khi thoát khỏi một tai nạn gần kề, bạn
thấy ngay tim đập th́nh thịch, cảm giác nôn nao
và ḷng bàn tay ẩm mồ hôi.
Selye (1956) đă quan sát thấy một
hệ thống liên quan của các đáp ứng sinh lư
chung nhất khi những sinh vật tiếp xúc với các kích
thích có hại như bị dồn ép trong đám đông,
nhiệt độ lạnh hoặc tiếp xúc các độc
tố. Ông gọi các đáp ứng này là
Hội chứng thích nghi tổng quát
(GAS
- general adaptation syndrome). GAS ngụ ư chỉ
những hoạt động thần kinh và nội tiết
cho phép cơ thể sinh vật chống lại những kích
thích sinh lư có hại. GAS được chia làm ba giai đoạn:
báo động
(alarm),
kháng cự
(resistance) và
kiệt
quệ
(exhaustion).
Trong giai đoạn báo động, có sự bài xuất liên
tục các hormone từ tuyến thượng thận, mà
điều này được cho là để bảo
vệ cơ thể sinh vật chống lại các kích thích
có hại. Nếu các kích thích này vẫn không giảm
bớt, những hormone tuyến thượng thận sẽ
bắt đầu gây ra những tác hại cho hệ
tuần hoàn, hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch.
Nếu các yếu tố gây stress tiếp tục đủ
lâu, sinh vật sẽ bị chết v́ tiềm năng thích
ứng của nó sẽ bị kiệt quệ.
Trong lúc Selye và Cannon mô tả một cách
tỉ mỉ những ảnh hưởng sinh lư của
stress, họ đă không nhận ra được tầm
quan trọng của những thông số tâm lư và hành vi
trong việc xác lập những đáp ứng sinh lư này.
Sự xuất hiện các đáp ứng “chống
hoặc chạy” và GAS tùy thuộc vào sự nhận
biết của đương sự về các kích thích có
hại và việc người đó có diễn giải các
kích thích này là có tính đe dọa hoặc có hại cho
họ hay không. Khi các kích thích có hại xảy đến
mà không có sự nhận biết của đương
sự, các đáp ứng sinh học sẽ không xảy ra (Mason,
1975b). Ví dụ, những bệnh nhân sắp chết nhưng
đang trong t́nh trạng hôn mê th́ không biểu hiện
một bằng chứng sinh học nào của stress; trong khi
những người sắp chết nhưng c̣n tỉnh th́
lại biểu hiện các phản ứng (Syrington, Currie,
Curran, Davidson, 1955).
Selye và Cannon sử dụng các kích thích có
hại về thể chất làm yếu tố gây stress. Các
phản ứng “chống hoặc chạy” và GAS cũng
được gây ra từ những kích thích có hại
về tâm lư, như chán chường, thi cử, hoặc
xem một cuốn phim kinh dị (Frankenhaeuser, 1972, 1978).
Sự khuấy động sinh lư xảy ra để đáp
ứng với cả những kích thích về tâm lư
lẫn thể chất. Trong các thực nghiệm của
Selye và Cannon, các sinh vật không được điều
kiện hóa để đáp ứng bằng hành vi với
các yếu tố gây stress. Trong môi trường tự nhiên,
con người lại có thể đáp ứng một cách
điển h́nh với các tác nhân gây stress. Sự xuất
hiện phản ứng “chống hoặc chạy”
hoặc GAS phụ thuộc vào khả năng tiên đoán và
kiểm soát các sự kiện có hại. Một loạt
nghiên cứu của Weiss (1968, 1971a, 1971b) đă cho
thấy tầm quan trọng của những khả năng
tiên đoán và kiểm soát ấy. Trong một nghiên
cứu, hai nhóm chuột được cho tiếp xúc
với một loạt các cú sốc điện. Các con
chuột trong nhóm thứ nhất có thể đạp lên
một đ̣n bẩy để thoát khỏi các cú
sốc; những con trong nhóm thứ hai cũng nhận các cú
sốc điện như nhóm thứ nhất, nhưng không
có khả năng né tránh. Chuột trong nhóm thứ nhất
được thấy ít bị loét dạ dày hơn nhóm
thứ hai. Trong một thí nghiệm tương tự,
những con chuột được nh́n thấy những tín
hiệu báo cho biết sốc điện sắp xảy ra,
ngay cả khi không có khả năng né tránh bằng hành vi,
cũng
Quan niệm cho rằng đáp ứng sinh lư
với stress là có tính không đặc hiệu (giống
nhau trong mọi điều kiện có hại) cũng đă
bị thách thức. Các biến đổi sinh lư c̣n tùy
thuộc vào cách thức phản ứng của
đương sự về hành vi và cảm xúc.
Nhiều mô h́nh sinh lư khác nhau đă được phát
hiện khi người ta đáp ứng với yếu
tố gây stress bằng sự sợ hăi hơn là giận
dữ (Mason, 1975b), bằng sự cảnh giác hơn là
hành động (Obrist, 1976), bằng phương
thức ganh đua, thù địch hơn là bằng phương
thức ôn ḥa (Dembroski, 1981). Cách thức mà chúng ta
diễn giải hoặc đối phó với những t́nh
huống đe dọa sẽ ảnh hưởng đến
mô h́nh khuấy động sinh lư liên quan đến t́nh
huống đó. Cách nh́n về stress dựa trên các đáp
ứng sinh học không phải là không đúng, nhưng nó
chưa được hoàn hảo.
Stress
- Một sự kiện từ môi trường
Quan niệm về stress như một sự
kiện từ môi trường được xuất phát
từ các quan sát lập đi lập lại của t́nh
trạng suy sụp về sinh lư và hành vi ở những người
tiếp xúc với các điều kiện sống khắc
nghiệt, như tham chiến trong quân đội (Grinker
& Spiegal, 1945) và bị những mất mát (Lindemann,
1944). Nếu như môi trường khắc nghiệt
dẫn đến những hậu quả tiêu cực, th́
sự tích lũy dần những sự kiện ít khắc
nghiệt hơn cũng có thể có những hậu
quả tai hại. Từ cách nh́n này, stress được
định nghĩa như một sự kiện từ môi
trường đ̣i hỏi một cá nhân phải thử
thách những tiềm năng và đáp ứng không b́nh thường
(Holroyd, 1979). Stress trú ngụ trong những “đ̣i
hỏi” của sự kiện hơn là bên trong cá nhân người
ấy.
Các nghiên cứu thực hiện theo quan
điểm môi trường đều có bản chất
dịch tễ học: số lượng và mức độ
của các sự kiện gây stress sẽ có tính tiên lượng
cho t́nh trạng sức khỏe của đương
sự (Dorenwend, 1981). Một cách có phương pháp, các
đương sự được yêu cầu liệt kê
những sự kiện gây stress mà họ đă trải qua
trong một khoảng thời gian nhất định (trong 6
tháng chẳng hạn), ví dụ
danh sách về các sự kiện
mới nhất
(SRE:
schedule of recent events) của Holmes và Rahe, 1967.
SRE gồm nhiều tiết mục như ly hôn, cưới
hỏi, sinh con, ngồi tù, mắc nợ, lễ giáng sinh…
Mỗi tiết mục được đánh giá dựa trên
giả định rằng một số việc (cưới
hỏi) có tính “đ̣i hỏi” nhiều hơn một
số việc khác (lễ giáng sinh). Việc đánh giá các
sự kiện được giả định một cách
dứt khoát rằng mỗi một sự kiện nhất
định đều có tính chất gây stress như nhau
với tất cả mọi người. Cả những
sự kiện tích cực lẫn tiêu cực đều
được xem là có tính gây stress, v́ cả hai loại
đều đ̣i hỏi sự thích ứng.
Rất nhiều nghiên cứu đă sử
dụng SRE để đánh giá mối liên quan giữa
stress và sức khỏe. Những nghiên cứu nhằm tiên
đoán bệnh trong tương lai và giải thích căn
bệnh trong hiện tại đă t́m ra mối liên quan
giữa số lượng và mức độ của các
yếu tố gây stress với khả năng mắc các
bệnh như đột tử do bệnh tim, các cơn
đau thắt ngực, lao (Rabkin, Struening, 1976) và
một số bệnh nhiễm trùng (Jemmotti, Locke,
1984).
Có vài vấn đề trong phương pháp
tiếp cận với stress về khía cạnh môi trường.
Liên quan giữa stress và bệnh tật có mức độ
vừa phải; tương quan trung b́nh khoảng 0,12;
tối đa 0,3 (Tanig, 1982). Các đánh giá về
mặt môi trường của stress có khả năng tiên
đoán giới hạn. Trái với quan điểm về môi
trường, không hẳn tất cả những thay đổi
đều nhất thiết có tính gây stress. Những thay
đổi như măn kinh và về hưu không được
xem là yếu tố gây stress nếu chúng xảy ra “đúng
lúc” và được dự kiến trước. Trong vài
trường hợp, t́nh trạng ít thay đổi lại
có thể gây stress. Những t́nh huống chán chường
kéo dài hoặc không được thăng tiến lại
thường được xem là có thể gây stress (Lazarus,
Folkman, 1984).
Các sự kiện cũng không có tính gây
stress như nhau ở tất cả mọi người.
Mức độ stress phụ thuộc vào ư nghĩa
của sự kiện và những tiềm năng sẵn có
ở mỗi người. Ví dụ, Lazarus, Homikos và Rankin
đă cho những đối tượng nghiên cứu
của họ xem cuốn phim về một tai nạn đáng
sợ, trong đó một công nhân bị đứt một
ngón tay và một người khác bị chết do một
tấm gỗ lớn đâm xuyên qua ngực. Trước
khi xem, một số đối tượng được
cho biết rằng cuốn phim chỉ là một sự dàn
cảnh, c̣n các đối tượng khác th́ không
được thông báo ǵ. Những người được
biết trước th́ ít bị khuấy động và lo
âu hơn, có lẽ do họ đă nhận định
sự việc là “không thật”. Việc nhận định
về sự kiện đóng vai tṛ trung tâm trong khi xác
định mức độ gây stress của sự
kiện.
Mức độ stress cũng tùy thuộc vào
những kỹ năng và tiềm năng sẵn có của
đương sự trong việc ứng phó với sự
kiện.
Nuchol, Cassel và Kaplan (1972) đă đánh giá
những hậu quả của stress và khả năng
ứng phó trong thai kỳ đối với các biến
chứng khi sinh đẻ. Tuy nhiên, khi xem xét chung các sự
kiện trong đời sống và khả năng ứng phó,
người ta thấy chúng có liên quan chặt chẽ
với nhau. 90% phụ nữ có điểm số thay
đổi đời sống (life change score) cao và
khả năng ứng phó kém đều được
chứng minh là có ít nhất một biến chứng, trong
khi chỉ 33% có điểm số thay đổi cao và
khả năng ứng phó cao bị biến chứng.
Quan niệm về stress như một sự
kiện có tính “đ̣i hỏi” từ môi trường là
chưa đầy đủ. Những cuộc xét lại các
sự kiện gây stress gần đây đă sửa
chữa một số nhược điểm này bằng cách
yêu cầu đương sự xác định mức
độ ảnh hưởng - tích cực hoặc tiêu
cực - của những sự kiện mà họ đă
trải qua (Sarason, Johnson, Siegel, 1978). Thông qua
việc chia mức độ như thế, những phương
thức đánh giá mới này đă cố gắng ghi
nhận khả năng nhận định và ứng phó
của các đương sự. Trái với những quan
niệm cho rằng bất kỳ sự kiện thay đổi
nào cũng gây stress, dữ kiện từ các đánh giá
đă cho thấy các sự kiện tích cực có tính tăng
cường sức khỏe hơn là hủy hoại
sức khỏe (DeLongis, Coyne, Dakof, Folkman,
Lazarus, 1982; Sarason, 1978).
Cách nh́n về stress theo quan điểm sinh
học và môi trường cơ bản là những
mô h́nh kích thích - đáp ứng
(Stimulus-Response model).
Chúng không cung cấp một cái nh́n thấu đáo vào
những thông số và những quá tŕnh trung gian điều
ḥa mối liên quan giữa các sự kiện có hại và
các đáp ứng sinh học. Nếu những sự
kiện gây stress dẫn đến hậu quả tiêu
cực cho sức khỏe, th́ điều đó xảy ra
như thế nào?
Stress
- Một hiện tượng thuộc về nhận
thức - hành vi
Phương pháp tiếp cận về
mặt nhận thức - hành vi định nghĩa stress như
một quá tŕnh tương giao giữa con người và
môi trường, trong đó đương sự nhận
định sự kiện từ môi trường là có tính
chất đe dọa và có hại, và đ̣i hỏi
đương sự phải cố gắng sử dụng
các tiềm năng thích ứng của ḿnh (Lazarus,
1966; Lazarus, Folkman, 1984). Stress không chỉ trú
ngụ trong sự kiện hoặc trong đáp ứng
của đương sự, mà tồn tại trong cả
hai yếu tố đó, cũng như trong các đáp
ứng nhận thức-hành vi giữ vai tṛ điều ḥa
hai yếu tố đó. Cách nh́n này rơ ràng nhấn
mạnh vào khía cạnh nhận thức - hành vi (thuộc
về tâm lư) trong việc hiểu biết về stress, v́
thế, nó đă bù đắp vào những thiếu sót
của các mô h́nh stress “sinh học” và stress “môi trường”.
Hai quá tŕnh trung tâm trong quan điểm tâm lư-hành
vi là
nhận định
(cognitive appraisal) và
ứng phó
(coping). Nhận định là quá tŕnh
mà qua đó đương sự đánh giá sự
kiện là có tính đe dọa hoặc có hại hay không,
nếu có th́ ở mức độ nào. Một sự
kiện chỉ gây stress khi đương sự nhận
định là “có hại”. Ứng phó là quá tŕnh
xảy ra những đáp ứng về hành vi, nhận
thức và t́nh cảm của đương sự đối
với sự kiện. Một sự kiện chỉ gây
stress khi đương sự thiếu các phương
tiện để ứng phó. Bằng cách tích hợp các b́nh
diện nhận thức, cảm xúc, hành vi và môi trường
của stress, quan điểm này do vậy có thể
được dùng làm khởi điểm cho việc xây
dựng một phương thức tiếp cận stress
một cách có hệ thống. Quan điểm nhận
thức - hành vi bỏ qua b́nh diện sinh học của
stress cùng những liên quan giữa sinh học với các b́nh
diện nhận thức, xúc cảm, hành vi.
STRESS
- MỘT QUAN ĐIỂM HỆ THỐNG
Stress
là một khái niệm mang tính
tổ chức, liên hệ đến nhiều thông số và
quá tŕnh, xảy ra trên nhiều b́nh diện của sự
phân tích: sinh lư, nhận thức - cảm xúc, hành vi và môi
trường. V́ thế, stress là một đáp ứng tích
hợp sinh học - tâm lư - xă hội với những
sự kiện được xem là có hại và đ̣i
hỏi những kỹ năng ứng phó của
đương sự. Chúng ta sẽ khảo sát từng
b́nh diện một cách chi tiết và mô tả những
ảnh hưởng qua lại của chúng.
Nhận
định (cognitive appraisal)
Các kích thích không mong muốn từ môi trường,
sinh lư và tinh thần không gợi lên ngay một đáp
ứng stresss. Đương sự không thụ động
tiếp nhận kích thích, mà chủ động nhận
định về nó. Nhận định là quá tŕnh
trong đó chúng ta gán những ư nghĩa cho các sự
kiện bên trong chung ta hoặc xung quanh chúng ta (Levine,
Weinberg, Ursin, 1978). Chúng ta thường xuyên đánh
giá sự thích đáng đối với bản thân (personal
relevance) và ư nghĩa hưởng lạc (hedonic
connotation) của những kích thích mà chúng ta chú tâm
đến. Dựa trên kinh nghiệm quá khứ và hoàn
cảnh hiện tại, một kích thích có thể
được đánh giá là: (1)
không đáng kể
(một
t́nh trạng không có ư nghĩa đặc biệt nào); (2)
lành tính
(một t́nh trạng tích cực, làm gia tăng
phúc lợi cá nhân); hoặc (3)
tiêu cực
(một t́nh trạng thực sự
tiêu cực, đe dọa đến phúc lợi cá nhân) (Lazarus,
Launier, 1978). Stress liên quan đến việc nhận
định một sự kiện là có tính đe dọa, có
hại hoặc thách thức. Giả sử bạn lái xe
lên miền núi để thực hiện một kỳ trượt
tuyết và gặp phải một trận băo tuyết. Con
đường có thể vượt qua được, nhưng
bị đóng băng rất nhiều. Nhiều xe hơi, xe
tải được thấy nằm trong các mương rănh
ở hai bên đường. Bạn thật khó mà điều
khiển được xe. Có lẽ bạn sẽ thấy
rất căng thẳng và tức giận. Bạn cũng
đang trong t́nh trạng nguy hiểm và có thể bị
mất một kỳ nghỉ đáng giá mà bạn đă
chuẩn bị từ lâu. Như đă nêu trong phần
đầu, một t́nh huống nhất định có
thể gợi lên một số kiểu nhận định
tiêu cực.
Một khi sự kiện được
nhận định là “tiêu cực”, một sự lượng
giá khác cũng sẽ được thực hiện
nhằm xem xét có thể làm được ǵ để
ứng phó với sự kiện và liệu những
việc ấy sẽ mang lại hiệu quả như
thế nào. Quá tŕnh này gọi là
nhận định khả năng
ứng phó
(coping
appraisal) (Lazarus, Folkman, 1984). Nếu quá tŕnh
nhận định kích thích
(stimuli appraisal) đặt ra các câu
hỏi chính như “Sự kiện này có ư nghĩa ǵ
đối với ta?”, th́ quá tŕnh nhận định
khả năng ứng phó sẽ đặt ra câu hỏi “Ta
có thể làm ǵ để giải quyết vấn đề
này?” và “Những việc ấy sẽ có hiệu
quả như thế nào?”. Giai đoạn này bao
gồm việc đề ra một chiến lược
ứng phó (coping strategy) đối với tác nhân gây
stress và ước tính hiệu quả của những
chiến lược này.
Ví dụ, để tiếp tục lái xe
(trong t́nh huống nêu trên), mối quan tâm của bạn
về t́nh trạng đường sá và mong muốn
thực hiện kỳ trượt tuyết khiến
bạn phải xem xét để lựa chọn một
giải pháp. Bạn có thể rời khỏi con đường
và chờ đợi một xe ủi tuyết; bạn có
thể lái xe chầm chậm cho đến khi t́m được
lối ra và chờ cho qua cơn băo; hoặc t́m một
lối đi khác ít nguy hiểm hơn. Bạn có thể
đưa ra bất kỳ sự lựa chọn nào, nhưng
phải liệu xem chúng có giúp ích ǵ hay không? Ngoại
trừ việc dừng xe lại tại chỗ, c̣n th́
chẳng có cách nào có thể tức thời chấm
dứt được mối nguy hiểm. Nhưng việc
này lại dẫn đến một sự đe dọa khác
kéo dài và nghiêm trọng hơn: không có thức ăn và
thiếu điều kiện để sưởi ấm.
Những giải pháp khác th́ tốt hơn về lâu dài.
Tuy nhiên, nếu bạn dừng lại và chờ cho cơn
băo đi qua, việc đặt pḥng trọ của bạn
sẽ bị hủy bỏ. C̣n các lối đi khác, theo
đài phát thanh, cũng chẳng có ǵ tốt hơn vv…
Cả việc nhận định sự
kiện là tiêu cực cũng như việc xem xét các
khả năng ứng phó là không đầy đủ và
không hiệu quả đều là những yếu tố
cần có để stress xuất hiện. Hai loại nhận định này
được bàn riêng để làm rơ các quá tŕnh, nhưng
chúng lại có thể xảy ra tương đối
tự nhiên và đồng thời. Mức độ “tiêu
cực” của một sự kiện và mức độ
“không đầy đủ” của tiềm năng
ứng phó có thể thay đổi. Việc nhận định
kích thích và nhận định khả năng ứng phó
sẽ tương tác với nhau để h́nh thành
mức độ của stress mà đương sự
trải qua. Mức độ stress cao nhất (như trong ví
dụ trên) xảy ra khi kích thích là rất tiêu cực và
khi không có biện pháp nào để giải quyết
sự kiện. Khi sự kiện ít trầm trọng hơn
và các cố gắng ứng phó có tính khả thi th́
mức độ stress sẽ giảm đi. Tuy nhiên,
một số t́nh huống vẫn xảy ra stress khi sự
kiện kích thích được nhận định là
“rất tiêu cực”, ngay cả khi những phương
thức ứng phó có khả năng thực thi được
(ví dụ: khi dự các kỳ thi quan trọng, dù bạn
đă được chuẩn bị kỹ) do tính chất
nghiêm trọng của sự kiện. Tương tự, khi
sự kiện ít nghiêm trọng, nhưng trong tay không có
sẵn những biện pháp giải quyết (như khi
ngồi trên ghế cho nha sĩ nhổ răng, hoặc lái
xe qua một vùng hoang vắng), stress sẽ xảy ra do
bị mất khả năng kiểm soát sự kiện.
Như đă mô tả, quá tŕnh nhận
định dường như khá tách biệt và có tính phân
tích, và nó không phù hợp với kinh nghiệm chủ quan
của chúng ta về sự đe dọa hoặc có
hại. Một phản ứng cảm xúc sẽ xảy ra
đồng thời với quá tŕnh nhận định (Leventhal,
Nerenz, 1983). Khi một sự kiện được
nhận định là lành tính, những cảm xúc tích
cực như vui vẻ, yêu thương, hạnh phúc,
phấn khởi, thanh thản sẽ diễn ra nơi
đương sự. Nếu sự kiện được
đánh giá là tiêu cực, những cảm xúc như
sợ hăi, lo âu, tội lỗi, thất vọng hoặc
trầm uất sẽ xuất hiện. Quá tŕnh nhận
định ḥa nhịp cùng với cảm xúc. Các quá tŕnh
nhận định và cảm xúc có ảnh hưởng qua
lại với nhau (Schacter, 1964). Trong thực tế, ngoài
việc kiểm soát chính bản thân sự kiện tiêu
cực, đương sự cũng cần kiểm soát các
khuấy động cảm xúc. Trong ví dụ nêu trên, lái
xe trên một con đường trơn trợt và việc
mất một kỳ nghỉ có thể gây nên sự
tức giận.
Quá tŕnh nhận định có tính chủ
quan nhưng không mạo hiểm. Nó chịu ảnh hưởng
bởi bản chất của sự kiện kích thích và
bởi những đặc trưng của đương
sự thực hiện việc nhận định. Đây
là ư nghĩa thực sự của quan niệm về
tính tương giao
(transaction) của stress (Lazarus,
1966). Nhân cách, kinh nghiệm quá khứ và các thông số cá
nhân khác của đương sự giúp h́nh thành nên
sự nhận định, đặc biệt khi sự
kiện có tính nhập nhằng, nước đôi. Nhưng
cách nhận định của đương sự
lại chịu sự thúc ép của sự kiện. Khi
một sự kiện tương đối nhập
nhằng, việc nhận định thường phù
hợp với bản chất khách quan của sự
kiện. Chúng ta hăy xem xét những yếu tố thuộc
về cá nhân đương sự và sự kiện kích
thích đă góp phần vào quá tŕnh nhận định.
Các
yếu tố thuộc cá nhân đương sự
Sự nhận định về kích thích và
các đáp ứng ứng phó sẵn có nhằm đáp
ứng lại kích thích ấy chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ bởi các thông số cá nhân (Wrubel, Brenner,
Lazzarus, 1981). Nhiều thông số cá nhân được
nghiên cứu trong mối liên quan với stress. Theo sau Lazarus
và Folkman, chúng ta sẽ khảo sát riêng về hai
thông số cá nhân khác là
đối tượng ủy thác
(commitment) và
niềm
tin
(belief).
Đối tượng ủy thác là
những ǵ mà đương sự đánh giá cao và xem là
quan trọng, bao gồm những mục đích và hoạt
động mà họ đầu tư năng lực vào,
hoặc những nhóm người và tổ chức mà
đương sự gắn bó. Hăy suy nghĩ về
những đối tượng ủy thác của bạn.
Những người nào, hoạt động nào và mục
đích nào là rất quan trọng đối với
bạn? Bất kỳ sự đe dọa hoặc gây thách
thức cho những đối tượng ủy thác
của bạn đều chất chứa một tiềm năng
gây stress rất lớn. Nếu bạn yêu một người,
những mối đe dọa cho người ấy hoặc
đe dọa mối quan hệ giữa bạn với người
ấy đều sẽ làm bạn khó chịu.
Đối tượng ủy thác tác động
lên sự nhận định của bạn thông qua
việc ảnh hưởng lên sự nhạy cảm
của bạn đối với những kích thích nhất
định. Chúng ta càng đầu tư nhiều vào
một ai đó, một mục đích hoặc một
hoạt động nào đó, th́ stress xảy ra càng
nặng nề khi người đó, mục đích đó,
hoạt động đó bị đe dọa. Các đối
tượng ủy thác càng làm tăng thêm khả năng
mẫn cảm của chúng ta đối với stress. Hăy
nghĩ về một người mà bạn yêu tha
thiết; và bởi ḷng quyến luyến quá mạnh
của bạn, một sự khước từ của người
đó có thể khiến bạn bị tổn thương
nghiêm trọng. Nhưng mặt khác, t́nh yêu của bạn
với người đó cũng mang đến cho bạn
những giây phút vui tươi, thỏa măn và hài ḷng.
Đối tượng ủy thác chính là “con dao hai lưỡi”
vậy!
Một ví dụ tương thích hơn
về sức khỏe là
ư chí sống c̣n
(will to live). Sự mất đi người
đồng hôn phối (đối tượng ủy thác
quan trọng) thường dẫn đến bệnh
tật và làm tăng tử suất ở những bạn t́nh
c̣n sống (Jacobs, Ostfeld, 1977; Parks, 1970). Trái
lại, việc t́m thấy những ư nghĩa và có
được những đối tượng ủy thác
mạnh mẽ có thể gia tăng những cơ hội
sống c̣n, thậm chí trong những t́nh huống xấu
nhất. Tất cả những ai c̣n sống sót từ
những trại tập trung của Đức Quốc Xă
đều cho biết rằng họ đă t́m được
một lư do nào đó để sống sót: sống để
làm nhân chứng, sống v́ lợi ích của bà con thân
thuộc, hoặc sống để trả thù (Frankl,
1959). Đối tượng ủy thác động viên chúng
ta tồn tại trong sự đối đầu với
nghịch cảnh. Khi đương đầu với
một mối đe dọa cho điều mà chúng ta coi là
quan trọng, chúng ta sẽ cố gắng hết sức
để loại bỏ mối đe dọa đó.
Một thông số cá nhân thứ hai ảnh
hưởng lên sự nhận định của chúng ta là
sự ư thức về khả năng
kiểm soát sự kiện
(sense
of control over events). Sự ư thức về khả năng
kiểm soát sự kiện sẽ làm giảm stress, và
thiếu điều này sẽ làm tăng thêm stress. Ví
dụ, Ferrare (1962) thấy rằng những người
già tự ḿnh lựa chọn vào nhà dưỡng lăo (có ư
thức kiểm soát) th́ sống lâu hơn những người
vào nhà dưỡng lăo mà không tự chọn (ít khả năng
kiểm soát). Tương tự, Langer và Rodin (1976)
đă nghiên cứu những hiệu quả của việc
tăng cường khả năng kiểm soát ở
những người già trong các nhà dưỡng lăo.
Những ai được giao trách nhiệm và được
tự lựa chọn công việc hằng ngày và sắp
xếp đời sống th́ sẽ tỉnh táo hơn, tích
cực hơn và vui vẻ hơn so với nhóm người
được để cho nhân viên nhà dưỡng lăo chăm
sóc. Những người được thúc đẩy
khả năng kiểm soát cho thấy t́nh trạng sức
khỏe thể chất tốt hơn. Trong ṿng 18 tháng,
số tử vong ở những người được
tăng cường khả năng kiểm soát là 15% so
với 30% trong nhóm kia.
Sự thiếu khả năng kiểm soát -
thực sự chỉ là cảm nhận như vậy - thường
được gọi là
sự “vô dụng”
(helplessness) (Seligman, 1975).
Sự vô dụng xảy ra khi khi đương sự
cảm thấy hành vi của họ chẳng có hiệu
quả ǵ hoặc các sự kiện là không thể
kiểm soát được. Điều này được
đặc trưng bởi tính thụ động trong hành
vi, cảm xúc ức chế và tư tưởng tập
trung vào sự thất vọng. Người “vô dụng”
sẽ ngưng cố gắng, thậm chí cả khi
được chuyển sang những điều kiện
sống mới (Miller, Seligman, 1975). Họ có
những kỳ vọng tiêu cực về bản thân,
về tương lai và về thế giới (Beck,
1976). Họ tin rằng “Bản thân ta chẳng tốt ǵ.
Thế gian này chẳng có ǵ tốt, và t́nh thế cũng
chẳng thể nào khá hơn”.
Sự nhận thức về khả năng
kiểm soát có ảnh hưởng lên sự tác động
của stress đối với đương sự. Stress
càng gia tăng khi đương sự cảm thấy hành
vi và kết quả không liên quan với nhau. Việc
thiếu khả năng kiểm soát sẽ dẫn đến
những hậu quả tiêu cực đối với hành
vi, t́nh cảm và sinh lư.
Các
yếu tố thuộc về t́nh huống
Các đặc tính của sự kiện kích
thích cũng có ảnh hưởng đến sự
nhận định. Chúng ta sẽ tập trung vào hai đặc
tính sau:
khả năng tiên đoán
(predictability) và
sự hạn định thời gian
(timing). Khả năng tiên
đoán là sự biết trước khi nào sự kiện
sẽ xảy ra. Nói chung, những sự kiện có thể
tiên đoán được th́ ít gây stress hơn những
sự kiện không tiên đoán được. Sẽ
rất có lợi nếu ta biết trước được
những sự kiện ngoài ư muốn có xảy ra hay không,
và nếu có th́ xảy ra khi nào. Khả năng tiên đoán
làm giảm mức độ đe dọa, nguy hại và thách
thức, bằng cách cho phép ta chuẩn bị ứng phó
sự kiện và biết được khi nào chúng ta
được an toàn (Weinberg, Levine, 1980).
Tầm quan trọng của khả năng tiên
đoán được chứng minh trong nghiên cứu
của Hunter (1979) trên những người vợ
(Mỹ) có chồng bị chết, bị mất tích,
bị bắt hoặc đă trở về từ cuộc
chiến tranh Việt Nam. Khả năng tiên đoán của
những người vợ ấy giảm dần theo
thứ tự sau: chồng đă trở về, bị
giết, bị bắt và bị mất tích khi đang làm
nhiệm vụ. Hunter thấy rằng những người
vợ có chồng bị mất tích trong chiến tranh đă
biểu hiện t́nh trạng sức khỏe thể
chất và tinh thần ở mức xấu nhất. Họ
phải đối đầu với một sự không
chắc chắn lớn lao nhất liên quan đến t́nh
trạng hôn nhân, vai tṛ và trách nhiệm của họ.
Họ gần như đă bị cầm tù.
Sự xuất hiện chắc chắn
của stress cùng thời gian và tần số của nó cũng
ảnh hưởng lên sự nhận định của
đương sự. Khi một sự kiện trở nên
chắc chắn sẽ xảy đến, đương
sự sẽ nhận thấy nó càng lúc càng có tính thách
thức và đe dọa. Mechanic (1062) thấy rằng
những thí sinh chuẩn bị thi lấy bằng tiến sĩ
sẽ càng bị lo âu hơn khi kỳ thi đến
gần. Một khi kỳ thi thực sự bắt đầu,
sẽ có sự giảm nhẹ đáng kể về
cảm xúc và các triệu chứng sẽ mất đi.
Một thí sinh đă nói “Vào thi không tệ bằng
biết trước về kỳ thi. Bạn không phải
lo lắng ǵ trong khi thi”.
Thời gian hiện diện của các tác nhân
gây stress cũng thay đổi từ những sự
kiện có giới hạn về thời gian như thi
cử, nhổ răng, đến những sự kiện kéo
dài như mâu thuẫn vợ chồng, tham gia chiến đấu
hoặc mắc bệnh ung thư. Thời gian và tần
số xuất hiện các tác nhân gây stress cũng
được xem là có vai tṛ trung tâm trong việc xác
định những hậu quả tiêu cực của stress
đối với sức khỏe. Giả định cho
rằng stress mạn tính làm suy ṃn đương sự (Selye,
1956), nhưng vẫn c̣n quá ít nghiên cứu về tác động
của các tác nhân gây stress khác nhau về thời gian và
tần số xuất hiện.
Theo quan điểm hệ thống, Stress
bao gồm việc đương sự nhận định
một sự kiện là có hại, đe dọa hoặc thách
thức, và tiềm năng ứng phó của đương
sự là không đầy đủ hoặc không hiệu
quả. Những nhận định này là kết
quả từ sự tương tác giữa các đặc
trưng của đương sự (đối tượng
ủy thác, niềm tin, các kư ức và kinh nghiệm) và
những đặc trưng của sự kiện được
nhận định (khả năng tiên đoán, sự
hạn định thời gian và tính nhập nhằng). Sự
nhận định một kích thích là có tính gây stress cũng
được tạo nên từ sự khuấy động
cảm xúc mà đến lượt nó lại tương
tác với sự nhận định của đương
sự.
Quá
tŕnh ứng phó (coping)
Ứng phó là những hành động
thuộc về nhận thức và hành vi nhằm chế
ngự những đ̣i hỏi của một sự
kiện được nhận định là có tính gây
stress. Khi đối đầu với một sự
kiện gây stress, đương sự sẽ cố
gắng “hóa giải” sự nguy hại và pḥng tránh
sự đe dọa. Vẫn c̣n có ít dữ liệu
về việc làm thế nào mà đương sự
ứng phó được với các tác nhân gây stress trong
môi trường sống tự nhiên. Sự biến hóa
của các chiến lược ứng phó là vô hạn.
Có hai đích điểm chính của sự
ứng phó:
tự thay đổi bản thân ḿnh
(changing ourselves) hoặc
thay đổi môi trường xung quanh
(changing the environment).
Đương sự có thể lựa chọn hoặc thích
nghi để phù hợp tốt hơn với môi trường
(“gió chiều nào theo chiều đó”) hoặc thay đổi
môi trường để thích hợp với nhu cầu
bản thân của ḿnh (phân hóa và chế ngự)1.
Ví dụ, nhà hàng xóm của bạn tổ chức một
bữa tiệc ồn ào làm phá giấc ngủ của
bạn. Bạn có thể chọn cách tham gia vào bữa
tiệc (tự thay đổi) hoặc gọi cảnh sát
(thay đổi môi trường). Những cố gắng
ứng phó có thể hoặc
định hướng theo cảm xúc
(emotion-oriented) hoặc
định hướng theo vấn đề
(problem-oriented). Sự ứng phó
định hướng cảm xúc nhắm vào việc
giảm bớt sự khuấy động cảm xúc gây nên
bởi stress. Sự ứng phó định hướng
vấn đề nhắm vào việc thay đổi sự
kiện được xem là có hại. Cả hai hướng
ứng phó có thể được thực hiện đồng
thời, hoặc riêng biệt, và cũng có khi là không tương
hợp với nhau. Trong hầu hết các t́nh huống gây
stress, các cố gắng ứng phó đều tập trung vào
cả hai hướng (Folkman, Lazarus, 1980). Hăy h́nh
dung rằng bạn đang rất căng thẳng về
kỳ thi giữa niên khóa được tổ chức vào
tuần tới. Việc ứng phó định hướng
vấn đề là làm sao tập trung vào việc học.
Ứng phó định hướng cảm xúc có thể dùng
thuốc để giải bớt lo âu. Dường như
việc ứng phó định hướng vấn đề
được ưa chuộng hơn v́ nó giải
quyết được “gốc rễ” của vấn
đề; nhưng ứng phó định hướng
cảm xúc cũng rất quan trọng. Cảm xúc thường
là khổ sở và lo lắng, và có hậu quả bắt
nguồn từ stress. Sự khuấy động cảm xúc
cũng có thể can thiệp vào các cố gắng về
nhận thức và hành vi của đương sự khi
ứng phó với vấn đề. Trong vài trường
hợp (như thiên tai hoặc bị thương tật),
ít có khả năng để chúng ta làm được
điều ǵ nhằm giải quyết vấn đề;
việc cơ bản là ứng phó với t́nh trạng
khuấy động cảm xúc được khơi lên
từ các sự kiện ấy. Các chiến lược
ứng phó có ba h́nh thức:
Chiến
lược ứng phó về nhận thức (cognitive coping
strategy)
Chúng ta có thể ứng phó với những
tác nhân gây stress hoặc với cảm xúc của chính ḿnh
bằng cách
giải quyết vấn đề,
tự nói chuyện
(self-talk) và
tái
nhận định
(reappraisal).
Giải quyết vấn đề bao gồm việc phân tích
t́nh huống để đề ra những hành động
khả thi, đánh giá những hành động đó và
lựa chọn kế hoạch hành động hữu
hiệu (Janis, Mann, 1977). Ví dụ, với kỳ
thi giữa niên khóa, việc giải quyết vấn đề
có thể gồm làm sao để giảm bớt lo âu (định
hướng cảm xúc, đích là bản thân) (emotion-oriented,
sefl as target); học thế nào để được
điểm cao (định hướng vấn đề,
đích là bản thân) (problem-oriented, sefl as target); vào
học lớp nào để bớt lo (định hướng
cảm xúc, đích là môi trường) (emotion-oriented,
environment as target); và làm sao tranh thủ sự giúp đỡ
của bạn bè để cùng học (định hướng
vấn đề, đích là môi trường) (problem-oriented,
environment as target).
Tự nói chuyện một ḿnh ngụ ư
chỉ những câu nói hoặc ư nghĩ thầm kín
được dùng để hướng dẫn những
cố gắng của chúng ta vào việc ứng phó với
sự kiện gây stress cùng những khuấy động
cảm xúc kèm theo nó. “Lời nói bên trong” ấy hướng
sự chú tâm đến những kích thích thích đáng,
tạo điều kiện cho việc h́nh thành và thực
hiện các chiến lược ứng phó và cung cấp
một sự phản hồi chính xác. Tưởng tượng
bạn đang ngồi trên chiếc ghế của một
nha sĩ, chờ làm răng. Bạn có thể tự
nhủ “Vị nha sĩ là người thận trọng;
ông sẽ chăm sóc chứ không làm đau ḿnh đâu” (định
hướng cảm xúc, đích là môi trường);
hoặc “Ḿnh căng thẳng quá, cần thở sâu để
thư giăn” (định hướng cảm xúc, đích
là bản thân); “Nh́n những h́nh vẽ trên trần
nhà kia có lẽ dễ chịu hơn” (định hướng
vấn đề, đích là môi trường); hoặc
“Ḿnh cần phải đương đầu với nó
đây” (định hướng vấn đề,
đích là bản thân).
Tái nhận định gồm việc
giảm bớt tác động của sự kiện
bằng cách thay đổi cách diễn giải sự
kiện. Nói cách khác, sự kiện sẽ được
gán cho một ư nghĩa khác. Một thí sinh thi hỏng có
thể nghĩ rằng “Bài thi này thật khó quá
sức” (định hướng vấn đề,
đích là môi trường), hoặc “Hôm nay xui
thật” (định hướng vấn đề,
đích là bản thân). Sự tức giận này có
thể được nhận định lại bằng cách
nghĩ rằng “Ông thầy thật đáng ghét, ḿnh có
quyền tức giận được chứ” (định
hướng cảm xúc, đích là môi trường)
hoặc “Chẳng đáng ǵ, khóa học này dù sao cũng
không quan trọng” (định hướng cảm xúc,
đích là bản thân).
Chiến
lược ứng phó về hành vi (behavioral coping strategy)
Đương sự cũng phải ứng
phó với stress bằng hành vi. Nói chung, có bốn loại
đáp ứng với stress bằng hành vi:
t́m kiếm thông tin,
hành động trực tiếp,
kiềm chế hành động
và
quay sang người khác.
T́m
kiếm thông tin
(seeking
information)
là thâu thập dữ liệu về bản chất của
tác nhân gây stress và về các chiến lược ứng
phó khả thi. Một người khi biết ḿnh bị ung
thư có thể t́m kiếm thông tin về tiên lượng
của bệnh này thông qua một nhân viên y tế (Haan,
1977). Người đó có thể dựa vào sự thay
đổi kích thước của khối u có thể
sờ nắn được để đánh giá hiệu
quả của điều trị (Norenz, Leventhal, Love,
1982). Thông tin v́ thế sẽ giúp ích cho các chiến lược
ứng phó và tăng cường cảm giác về khả
năng kiểm soát và tiên đoán sự kiện.
Hành
động trực tiếp
(direct
action)
là công khai các đáp ứng bằng lời nói hoặc hành
động nhằm làm thay đổi tác nhân gây stress
hoặc các khuấy động cảm xúc liên quan đến
stress. Một người bị bong gân cổ chân có
thể nghỉ ngơi, dùng thuốc giảm đau hoặc
đến bác sĩ khám. Một người vừa bị
mất đi người mà ḿnh thương yêu có thể
tự “chôn” ḿnh trong công việc, hoặc xem những
bức h́nh cũ của người quá cố cho vơi
bớt nỗi buồn.
Kiềm
chế hành động
(inhibiting
action)
là không làm một điều ǵ đó nhằm làm
giảm bớt stress và các khuấy động cảm xúc.
Một người bị ho kinh niên có thể ngưng hút
thuốc lá. Tránh các t́nh huống tạo nên lo âu cũng
thích hợp với loại đáp ứng này. Ví dụ,
đương sự thường hay “quên” các cuộc
hẹn với nhân viên y tế v́ bị đau hoặc
bị ngượng ngùng khi được khám bệnh.
Loại ứng phó sau cùng về hành vi -
quay sang người khác
(turning to others) - theo truyền thống
thường được gọi là
sự hỗ trợ xă hội
(social support).
Hỗ
trợ xă hội (Social support)
Cụm từ “quay sang người khác”
được dùng ở đây v́ nó nhấn mạnh vào
bản chất tích cực và tương hỗ của
chiến lược ứng phó này. Mối tương
quan giữa bản thân chúng ta và những người khác
tạo nên nguồn lực quan trọng để ứng phó
với stress. Chúng ta có thể nhận được
sự hỗ trợ vật chất, tinh thần và thông tin
từ những người khác. Hỗ trợ vật
chất gồm tiền bạc, hàng hóa và các dịch
vụ sẵn có từ những người khác (Cohen,
McKay, 1984). Hỗ trợ tinh thần là khi cảm
thấy ḿnh được người khác yêu thương,
đánh giá cao và có cơ hội để trao đổi
những cảm giác ấy (Cobb, 1976). Hỗ trợ thông
tin là khi được người khác cho ư kiến
về ư nghĩa của những sự kiện gây stress,
hoặc cho lời khuyên về những chiến lược
ứng phó và cung cấp một phản hồi về tính
đúng đắn của các cố gắng ứng phó này
(Cohen, McKay, 1984).
Hỗ trợ xă hội có thể điều
chỉnh stress bằng hai cách. Đầu tiên, một
sự hỗ trợ như thế có thể pḥng ngừa
được stress. Biết được những người
khác sẽ chăm sóc và giúp đỡ ḿnh là một cách
để pḥng ngừa stress v́ các sự kiện khi ấy
sẽ được xem là ít có tính đe dọa (Singer,
Lord, 1984). Việc thiếu sự hỗ trợ xă
hội có liên quan đến t́nh trạng sức khỏe kém.
Ví dụ Berkman và Syme (1979) đă thấy
rằng hỗ trợ xă hội là một yếu tố tiên
lượng khiêm tốn nhưng rất quan trọng về
t́nh trạng tử vong, ngay cả khi t́nh trạng sức
khỏe ban đầu, các hành vi gây tổn hại sức
khỏe và t́nh trạng xă hội đă được
kiểm soát. Những ai ít có những mối quan hệ xă
hội thường có tỷ lệ tử vong cao hơn.
Hỗ trợ xă hội cũng có thể làm
giảm bớt những ảnh hưởng tiêu cực
của stress khi nó đă xuất hiện. Ví dụ, hỗ
trợ xă hội có liên quan đến thời gian sống
c̣n được kéo dài hơn ở những bệnh nhân
ung thư (Weisman, Worden, 1975). Một số lớn
vấn đề được báo cáo ở những
bệnh nhân là các vấn đề về giao tiếp. Chúng
bao gồm sự khó giao tiếp với người khác
về bệnh ung thư, nói chuyện với những thành
viên trong gia đ́nh về tương lai và việc thu
thập thông tin từ những nhân viên y tế (Wortman,
Dunken-Schetter, 1979). Nhân viên y tế, gia đ́nh và
bạn bè có thể giúp bệnh nhân ung thư làm rơ
vấn đề và đoan chắc điều ǵ sẽ
xảy đến với họ, biểu hiện t́nh yêu thương,
sự chăm sóc, và cùng nhau phát triển những
chiến lược ứng phó với các nhu cầu về
thể chất và tinh thần của bệnh ung thư cùng
việc điều trị bệnh này. Hỗ trợ xă
hội cũng kích thích sự lành bệnh bằng cách thúc
đẩy người bệnh gắn bó hơn với
việc điều trị (Suls, 1982).
Những
yếu tố xác định nên chiến lược
ứng phó
Một số lớn chiến lược
ứng phó có thể được áp dụng để
đáp ứng với stress. Việc chọn lựa
chiến lược chịu ảnh hưởng bởi các
thông số thuộc về bản thân đương
sự cũng như các thông số thuộc về t́nh
huống. Những thông số cá nhân như
giá trị
(value) và
niềm tin
(belief) sẽ làm phát sinh hoặc
loại bỏ một số cách thức hành động và
ảnh hưởng đến cách thức của
đương sự ứng phó như thế nào với tác
nhân gây stress. Một kiểu cách đáp ứng cũng
phải có sẵn trong “vốn sống” của
đương sự trước khi nó có thể
được sử dụng để ứng phó với
các tác nhân gây stress. Ly hôn là một giải pháp hợp lư
để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng
(trong những t́nh huống không thể ḥa giải), nhưng
nó lại là điều không thể chấp nhận
được ở những ai có niềm tin rằng ly hôn
là có tội. Một đáp ứng quyết đoán dường
như là cách chọn lựa hợp lư để ứng phó
với những kẻ không biết điều, nhưng có
nhiều người đă không biết cách biểu
lộ những cảm giác và ư kiến của ḿnh một
cách trực tiếp và mạnh mẽ như thế. Tóm
lại, các kiểu hành động ứng phó phải “có
sẵn” nơi đương sự và được
đương sự chấp nhận.
T́nh huống xảy ra tác nhân gây stress cũng
có thể ảnh hưởng đến phương
thức mà đương sự áp dụng để
ứng phó. Hiển nhiên rằng, tác nhân gây stress tự nó
có thể thúc đẩy tính khả dụng và hiệu
quả của các chiến lược ứng phó. Nỗi
mất mát từ cái chết của một người mà
ḿnh thương yêu chủ yếu đ̣i hỏi một h́nh
thức ứng phó định hướng cảm xúc,
bởi không thể nào làm người chết sống
lại. Nội dung của tác nhân gây stress cũng thúc
đẩy sự ứng phó. Hậu quả không hay sẽ
xảy ra nếu một người nào đó đánh ông
chủ của ḿnh v́ những yêu cầu làm việc không
hợp lư. Những cố gắng ứng phó do vậy thường
phải làm sao phù hợp với những áp lực và
đ̣i hỏi của môi trường.