www.tamlytrilieu.com
An
Overview of Autistic Children
TỔNG
QUAN VỀ TRẺ TỰ KỶ
BS
NGUYỄN MINH TIẾN dịch và tổng hợp
LỊCH
SỬ
Ngược ḍng lịch sử, dường
như luôn luôn có sự hiện diện của những
đứa trẻ tự kỷ trong xă hội loài người,
dù rằng cho măi đến năm 1943, sau công bố
của BS. Leo Kanner (Hoa Kỳ), người ta mới
thực sự biết được sự tồn tại
của những đứa trẻ như thế. Đó
đây, trong thế giới chuyện cổ tích phương
Tây, vẫn c̣n những câu chuyện kể về những
đứa trẻ bị “tiên đánh tráo”, trong đó
những v́ tiên trên trời đă xuống bắt lấy
đứa bé con người và để lại những
đứa bé tiên xinh đẹp, nhưng tính t́nh lạ lùng
và khác xa so với loài người.
Vào năm 1799, một bác sĩ người
Pháp là J.M.G Itard đă tiếp nhận một đứa bé
12 tuổi được biết dưới cái tên Victor
“Đứa bé hoang dă ở Aveyron”. Victor đă được
dân làng Aveyron t́m thấy khi nó đang đi lang thang và
sống đời hoang dă ở trong rừng. Hành vi của
đứa trẻ này rất bất thường. Itard nghĩ
rằng Victor là một đứa trẻ thiểu năng
do đă bị cách ly khỏi loài người ngay từ
thuở bé. Pinel, một bác sĩ nổi tiếng khác cùng
thời, đă không đồng ư với Itard. Pinel tin
rằng Victor là một đứa trẻ chậm phát
triển mức độ nặng ngay từ lúc sinh ra. Ngày
nay khi xem lại câu truyện này người ta có thể
thấy rằng, Victor đă có những hành vi ứng
xử của một trẻ bị tự kỷ. Nhưng vào
thời ấy, những hành vi đi bốn chi, hú như sói
của Victor chỉ khiến người ta thêu dệt nên
câu chuyện về một “Cậu bé rừng xanh”
được mẹ sói nuôi dưỡng từ nhỏ. Cũng
có thể lư giải rằng vào thời kỳ nhiễu nhương
ấy (sau cách mạng Pháp) đứa bé đă bị cha
mẹ cách ly hoặc bỏ rơi v́ t́nh trạng tự
kỷ với những hành vi khó kiểm soát của nó.
Hơn một thế kỷ sau, năm 1919,
một tâm lư gia Hoa Kỳ , Lightner Witmer, đă có một bài
viết về Don, một đứa bé trai 2 tuổi 7 tháng,
với những hành vi ứng xử của một đứa
trẻ tự kỷ. Sau đó, Don được đưa
vào một trường đặc biệt của Witmer và
nhờ sự dạy dỗ cá nhân tích cực trong thời
gian dài, đứa bé đă có thể bù trừ được
sự khiếm khuyết của nó.
Năm 1943, Kanner (ĐH John Hopkins – Hoa
Kỳ) là người đầu tiên đă mô tả
một nhóm những trẻ đặc biệt này. Từ
đó sự quan tâm của giới khoa học ngày càng gia
tăng. Đă có nhiều học thuyết giải thích
về căn nguyên của bệnh tự kỷ và hành vi
thực sự của những trẻ bị căn bệnh
này mới được quan sát và mô tả thật chi
tiết.
Thời gian sau đó, nhiều phương
pháp trị liệu và giáo dục đă ra đời góp
phần cải thiện chất lượng đời
sống và tiên lượng của trẻ tự kỷ.
Năm 1943, Leo Kanner mô tả 11 ca tự
kỷ đầu tiên với một số nét đặc
trưng như: không tạo lập được các
mối quan hệ với con người, bàng quang, thờ
ơ, chậm nói và không sử dụng lời nói để
giao tiếp, cùng với các hoạt động chơi
đơn giản, lập đi lập lại.
Kanner mô tả những trẻ này như
thể “bị mất khả năng bẩm sinh trong
việc thiết lập các mối quan hệ cảm xúc
với con người”.
Mặc dù có sự khác nhau giữa các trường
hợp, nhưng vẫn có hai nét chung có ư nghĩa chẩn
đoán:
+ Tính cô độc, tự kỷ;
+ Sự ǵn giữ nguyên trạng mang tính ám
ảnh.
Kanner đề xuất thuật ngữ “tự
kỷ sớm nhũ nhi” (Early Infantile Autism) nhấn
mạnh sự xuất hiện triệu chứng đă có
từ tuổi nhũ nhi.
Sau đó, ở Mỹ và Châu Âu, cũng đă phát
hiện thêm nhiều trẻ có biểu hiện tương
tự (Asperger, 1944; Despert, 1951; Van Krevelen, 1952).
Tên gọi tự kỷ (Autism) vẫn c̣n bị
tranh căi. Nó khiến người ta dễ lầm lẫn
với việc Bleuler dùng thuật ngữ này để mô
tả bệnh tâm thần phân biệt ở người
lớn. Từ đó dẫn đến hàng loạt các tên
gọi khác nhau để thay thế như tâm thần phân
liệt trẻ em, loạn tâm ranh giới, loạn tâm
cộng sinh và loạn tâm tuổi nhũ nhi tùy theo quan
điểm riêng của cac tác giả về bản
chất và căn nguyên của bệnh tự kỷ.
Năm 1956, để làm rơ sự nhầm lẫn này
Eisenberg và Kanner đă giảm số triệu chứng
chủ yếu c̣n lại 2:
+ Tự cô lập ở mức độ
nặng;
+ Khuynh hướng muốn bảo tồn
nguyên trạng.
Đặc tính bất thường, kỳ dị
về ngôn ngữ được xem là thứ phát do
rối loạn quan hệ với con người và v́
thế không phải là triệu chứng chính yếu.
Tuổi khởi phát được mở rộng đến
2 năm đầu đời.
Tuy nhiên, một số tác giả lại đưa ra
những tiêu chuẩn khác. Schain và Yannet (1960) đă
loại triệu chứng bảo tồn nguyên trạng ra
khỏi tiêu chuẩn của họ. Creak và cs. (1961) sử
dụng 9 điểm chẩn đoán cho tất cả các
loại loạn tâm ở trẻ em, bao gồm cả
bệnh tự kỷ của Kanner, vào trong một chẩn
đoán duy nhất là “hội chứng tâm thần phân
liệt ở trẻ em”.
Năm 1968 , Rutter đưa ra 4 đặc trưng
chủ yếu của tự kỷ :
1. Thiếu quan tâm và đáp ứng trong quan
hệ xă hội .
2. Rối loạn ngôn ngữ: từ mức
độ không có lời nói cho đến lời nói
lập dị.
3. Hành vi, vận động dị thường
: từ mức độ chơi hạn chế, cứng
nhắc, cho đến các khuôn mẫu hành vi phức
tạp mang tính nghi thức và thúc ép.
4.- Khởi phát sớm trước 30 tháng
tuổi.
Những nét đặc trưng này hiện diện
ở hầu hết các trẻ tự kỷ. Có một
số nét đặc hiệu khác, nhưng chúng lại phân
bố không đồng đều.
Năm 1978, Hiệp hội Quốc gia về Bệnh
Tự kỷ ở Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa:
Tự kỷ là một hội chứng các hành vi biểu
hiện trước 30 tháng tuổi với những nét
chủ yếu sau :
1. Rối loạn tốc độ và tŕnh
tự phát triển.
2. Rối loạn đáp ứng với các kích
thích giác quan.
3. Rối loạn lời nói, ngôn ngữ và
giao tiếp phi ngôn ngữ.
4. Rối loạn khả năng quan hệ
với con người, sự vật và sự kiện
(Ritvos & Freeman, 1978).
Định nghĩa này cùng với các định nghĩa
của Kanner (1943) và Rutter (1968) đă tạo sở cho hai
hệ tiêu chuẩn được dùng rộng răi sau đó
là ICD-9 (1980) và DSM III (1980) .
CÁC QUAN NIỆM VỀ CHẨN ĐOÁN
Mặc dù ICD-9 và DSM III có những định nghĩa
và tiêu chuẩn chẩn đoán giống nhau về bệnh
tự kỷ trẻ em, nhưng vẫn có những khác
biệt trong quan niệm về bệnh này.
Trong ICD-9 tự kỷ trẻ em là một phân nhóm
của các “Loạn tâm có căn nguyên chuyên biệt
ở trẻ em”.
C̣n trong DSM III (1980) và DSM III-R (1987) của Hội tâm
thần học Hoa Kỳ, tự kỷ trẻ em là một
loại rối loạn phát triển lan tỏa (PDD: Pervasive
Developmental Disorders): là các rối loạn phát triển
nghiêm trọng và xuất hiện sớm, đặc trưng
bởi sự tŕ trệ và bóp méo các quá tŕnh phát
triển kỹ năng quan hệ xă hội, nhận
thức và giao tiếp.
Trong DSM III, PDD bao gồm :
+ Tự kỷ nhũ nhi (khởi phát trước
30 tháng tuổi)
+ PDD trẻ em (childhood –onset: khởi phát
sau 30 tháng tuổi)
+ PDD không đặc hiệu (t́nh trạng
giống tự kỷ, nhưng không thể xếp vào hai nhóm
trên).
+ Tự kỷ di chứng (không đủ tiêu
chuẩn chẩn đoán tự kỷ nhũ nhi, nhưng trước
đó đă từng được chẩn đoán như
vậy).
Tuy nhiên, những dữ liệu thực tế cho
thấy không có sự khác nhau đáng kể nào (trừ
tuổi khởi phát) giữa tự kỷ nhũ nhi và
childhood-onset PDD, do vậy phân nhóm thứ hai đă bị
loại bỏ trong DSM-III-R.
Ngoài ra, cũng khó có thể phân biệt được
giữa PDD không đặc hiệu và tự kỷ di
chứng. V́ thế, trong DSM III-R (1987) chỉ phân PDD thành 2
nhóm :
1. Rối loạn tự kỷ (đại
loại giống tự kỷ nhủ nhi).
2. PDD không chuyên biệt (PDD NOS: PDD Not
otherwise specified)
Gần đây, DSM IV (1994) tiếp tục dùng
thuật ngữ chẩn đoán PDD bao gồm:
1. Rối loạn tự kỷ (Autistic
Disorder)
2. Rối loạn Rett
3. Rối loạn giải thể ở
trẻ em (Childhood Disintegrative Disorder)
4. Rối loạn Asperger.
5. PDD NOS
Lorna Wing (1981) cho rằng tự kỷ sớm
nhũ nhi của Kanner không phải là t́nh trạng bệnh
lư có tính đặc hiệu và riêng biệt. Mặc dù các
dấu hiệu tự kỷ điển h́nh trên lâm sàng có
thể được nhận diện khá dễ, nhưng
vẫn c̣n nhiều trẻ khác có những nét giống
tự kỷ nhưng không thể hiện đầy đủ
triệu chứng (tự kỷ không điển h́nh).
Tất cả những trẻ này đều có nhu cầu
được giáo dục theo phương thức chuyên
biệt. Dùng thuật ngữ tự kỷ điển h́nh
và không điển h́nh có thể gây nên sự phân
biệt đối xử và khiến một số trẻ
“không điển h́nh” có thể không nhận được
các biện pháp giáo dục và điểu trị cần
thiết. Do vậy, bà đă đề xuất thuật
ngữ chẩn đoán Autistic Spectrum Disorder (ASD =
Rối loạn phổ tự kỷ) xem rối loạn
tự kỷ như một phổ trường gồm các
phân loại tự kỷ điển h́nh, tự kỷ không
điển h́nh, hội chứng Asperger và các loại PDD khác.
DỊCH TỄ
* Lưu hành độ :
Các nghiên cứu dịch tễ học ở Bắc
Mỹ, Châu Âu và Châu Á ước tính lưu hành độ
của rối loạn tự kỷ là khoảng 2-13/10.000
trẻ. Khuynh hướng hiện nay báo cáo những con
số cao hơn.
DSM IV: 2 – 5 / 10.000 trẻ em
* Phái tính:
Tỷ lệ nam, nữ = 4 : 1
* Giai tầng kinh tế – xă hội:
Kanner (1943) quan sát thấy đa phần các ca tự
kỷ của ông đều xuất thân từ các gia đ́nh
khá giả, thuộc tầng lớp trên của xă hội.
Tuy nhiên, các nghiên cứu sâu rộng trên dân số
chung sau này đă cho thấy điều trên là không đúng.
Tsai (1982) nhận thấy các nghiên cứu cho tỷ lệ
bệnh cao ở tầng lớp trên hầu hết
được thực hiện trước năm 1970 và
sau 1970 các nghiên cứu đều thấy bệnh phân
bố đều trong các thành phần dân chúng (liên quan
đến tŕnh độ giáo dục, thu nhập của
phụ huynh và sự tổ chức tốt mô h́nh
chuyển gửi bệnh viện).
Chính từ kết quả của những nghiên
cứu càng tác động làm thay đổi các học
thuyết về căn nguyên của bệnh tự kỷ.
LÂM SÀNG
TUỔI KHỞI PHÁT
Kanner (1943) mô tả bệnh xảy ra một thời
gian ngắn sau sinh. Tuy nhiên các tác giả khác nêu thời
gian khoảng hai năm đầu đời. Nhưng
thật ra cũng khó xác định được sự
phát triển đầu đời của những trẻ
này có thật sự là b́nh thường hay không. Các
triệu chứng tinh tế trong giai đoạn đầu
cũng có thể đă bị cha mẹ bỏ qua, bị quên
hoặc khước từ.
Trong 63 ca tự kỷ của Rutter và Lockyer (1967), có 4
trẻ khởi phát trong khoảng thời gian 3 – 5 ½
tuổi. Trong khảo sát 32 trẻ tự kỷ của
Lotter (1966), có 3 trẻ “thoái lùi về phát triển”
xảy ra trong khoảng 3 đến 4 tuổi rưỡi. Các
trẻ này được xếp loại “tự kỷ không
đặc hiệu”.
KHIẾM KHUYẾT VỀ QUAN HỆ XĂ HỘI :
• Là đặc điểm trung tâm của
bệnh tự kỷ (Kanner, 1943). Trẻ tự kỷ có
khuynh hướng tránh tiếp xúc và ít biểu lộ
sự lưu tâm đến giọng nói của người
khác.
• Chúng không thay đổi tư thế
hoặc không giơ tay khi sắp được bồng
bế như trẻ b́nh thường.
• Cảm xúc thờ ơ, vẻ mặt không
diễn cảm.
• Ở trẻ tự kỷ có trí tuệ
khá, dấu hiệu khiếm khuyết quan hệ xă hội
có thể không rơ rệt cho đến năm 2 tuổi.
• Lúc nhỏ, trẻ có thể tránh
tiếp xúc bằng mắt (eye contact), nhưng có
thể chấp nhận nếu được vuốt ve và
đặt ngồi trong ḷng mẹ.
• Tuy nhiên, trẻ thường không phát
triển hành vi gắn bó, không đi theo bố mẹ trong
nhà.
• Hầu hết trẻ tự kỷ không
sợ người lạ, không lo âu khi chia ĺa bố
mẹ. Không chơi chung với trẻ cùng tuổi và
chủ động tránh những trẻ này.
• Khi lớn lên, trẻ có thể phát
triển khả năng gắn bó với cha mẹ và
những người lớn khác. Một số trẻ có
thể chơi chung với bạn hoặc tham gia một
số tṛ chơi vận động thể lực.
• Tuy nhiên trẻ vẫn khiếm khuyết
về mặt xă hội. Trẻ thường ít quan tâm
đến tṛ chơi nhóm và không thiết lập
được quan hệ với bạn cùng tuổi.
CÁC VẤN ĐỀ VỀ GIAO
TIẾP
Khiếm khuyết giao tiếp phi ngôn ngữ
• Lúc nhỏ, trẻ thường biểu
lộ nhu cầu qua tiếng khóc. Lớn lên, trẻ
biểu lộ ư muốn bằng cách kéo tay người
lớn đến vật mong muốn. Thường khi đó,
trẻ không diễn cảm qua nét mặt.
• Không biết chỉ tay, không biết
gật đầu, lắc đầu.
• Không tham gia các tṛ chơi bắt chước.
Không có khả năng bắt chước làm theo những
việc làm của bố mẹ như những trẻ b́nh
thường vẫn làm.
• Không hiểu được ư nghĩa
của những cử chỉ, điệu bộ của người
lớn.
• Trẻ lớn, đôi khi có thể
sử dụng và có khi hiểu được cử
chỉ điệu bộ của người lớn.
Một số trẻ đạt đến khả năng
chơi bắt chước, nhưng cách chơi thường
vẫn có tính rập khuôn và lập đi lập lại.
• Nói chung, trẻ tự kỷ vẫn có
thể biểu lộ cảm xúc vui, sợ, giận
dữ… nhưng cách thể hiện có khuynh hướng
cực đoan. Nét mặt thường không diễn tả
ư nghĩa. Một số trẻ hầu như thể
hiện nét mặt vô cảm.
Không hiểu lời nói
• Có thể từ nhẹ đến
mức độ chẳng bao giờ hiểu được
lời nói.
• Ở mức độ nhẹ, trẻ có
thể tuân theo những chỉ dẫn đơn giản,
nếu chỉ dẫn được đưa ra đúng
bối cảnh tức thời, hoặc có kèm theo những
cử chỉ, điệu bộ minh họa tương
ứng.
• Trẻ bị khiếm khuyết khả năng
hiểu những ư nghĩa trừu tượng và tinh
tế.
• Tính hài hước và diễn đạt
thành ngữ cũng bị nhầm lẫn ngay cả ở
những trẻ tự kỷ thông minh nhất.
Khiếm khuyết về phát
triển lời nói
• Nhiều trẻ tự kỷ ít bập
bẹ trong năm đầu tiên. Gần phân nửa trong
số 11 trẻ tự kỷ của Kanner vẫn câm nín cho
đến 5 tuổi.
• Khoảng 1/2 trẻ tự kỷ sẽ
bị câm nín suốt đời (Ricks & Wing, 1976).
• Nếu trẻ phát triển lời nói, thường
lời nói cũng sẽ có bất thường. Nhiều
trẻ nói vô nghĩa, nói vẹt (echolalia: nhại
lời). Trẻ có thể nhại lại lời nói
của người khác một cách chính xác, nhưng thường
ít hoặc chẳng hiểu được ư nghĩa
của chúng. Nhại lời nặng có thể khiến câu
cú bị méo mó và rời rạc. Một số trẻ có
thể sao lại chính xác những cụm từ của người
khác nói, đôi khi nhại đúng cả âm sắc
giọng nói.
• Trong giai đoạn đầu của
sự phát triển ngôn ngữ, có thể có hiện tượng
hoán đổi đại từ nhân xưng.
• Giọng nói có thể giống robot, đặc
trưng bởi sự đơn điệu, phẳng
lặng, không thay đổi, ít nhấn giọng và không
diễn cảm.
• Một số trẻ nói với mục
đích “tự kích thích”, lời nói có tính chất
lập đi, lập lại, không liên quan đến
những việc thực sự đang diễn ra xung quanh
(Lovaas, 1977).
• Trẻ nhỏ có thể gặp các
vấn đề về phát âm, khi lớn lên t́nh trạng
này có thể giảm.
• Đối lập với khả năng
nhại lời chính xác, những lời nói tự nhiên
của trẻ lại có nội dung rất nghèo nàn,
vốn từ ít ỏi.
• Có thể dùng kiểu nói như đang hát,
kéo dài một số âm hoặc từ nào đó trong câu. Câu
nói thường được kết thúc kiểu câu
hỏi (lên giọng ở cuối câu).
• Cấu trúc ngữ pháp bất thường,
không thành thục, thường gặp trong lời nói
tự nhiên của trẻ.
• Trẻ tự kỷ có thể đặt
tên riêng cho đồ vật theo cách của ḿnh, hoặc dùng
những từ riêng mà người khác không thể
hiểu được .
• Không biết sử dụng hoặc
sử dụng không đúng các giới từ, liên từ và
đại từ.
• Trẻ có khuynh hướng không sử
dụng lời nói để giao tiếp. Thường nói
rập khuôn, lập đi lập lại.
• Không biết dùng lời nói để
diễn tả ư trừu tượng. Không biết nói
về chuyện quá khứ, chuyện tương lai
hoặc chuyện không xảy ra trước mắt.
• Tiến bộ hơn, một ít trẻ
tự kỷ có thể nói về điều trẻ quan tâm,
nhưng một khi người lớn đáp ứng và
bắt đầu nói chuyện với trẻ th́ trẻ
lại bỏ dở và rút khỏi cuộc nói chuyện
ấy. Nói chung, trẻ vẫn thiếu khả năng tương
tác qua lại.
Hành vi bất thường
•
Chống lại sự thay đổi.
Trẻ tự kỷ thường khó chịu trước
những thay đổi trong môi trường sống quen
thuộc của chúng. Một sự thay đổi nhỏ
trong thông lệ thường ngày có thể làm trẻ
nổi cơn tam bành.
Nhiều trẻ hay xếp đồ chơi và
vật dụng thành hàng dài và rất khó chịu nếu
như trật tự này bị thay đổi. Hiện tượng
này gặp ở trẻ tự kỷ có chậm phát
triển trí tuệ nhiều hơn gấp hai lần so
với trẻ tự kỷ có trí thông minh b́nh thường
(Bartak & Rutter, 1976).
Hầu hết trẻ tự kỷ đều
chống lại việc học và thực hành một
hoạt động mới.
• Hành vi mang tính nghi
thức, thúc ép :
Các
hành vi mang tính nghi thức, thúc ép thường liên quan
đến những thông lệ cứng nhắc như:
từ chối ăn một loại thức ăn nào đó;
hoặc là những hành vi có tính rập khuôn, lập đi
lập lại, vd: vung vẩy hai cánh tay, hoặc đưa
bàn tay lên gần mặt rồi xoắn vặn hoặc
bật bật các ngón tay.
Trẻ lớn có thể phát triển các hành vi mang tính
ám ảnh, vd: hỏi đi hỏi lại cùng một câu
hỏi, và các hành vi có tính thúc ép, vd: hay sờ đụng
vào một số đồ vật nào đó.
Các hành vi mang tính nghi thức, thúc ép thường
xảy ra ở bệnh nhân tự kỷ không bị
chậm phát triển trí tuệ hơn là bệnh nhân có trí
tuệ kém (Bartak & Rutter, 1976).
• Những sự gắn
bó bất thường :
Nhiều
trẻ tự kỷ có sự gắn bó mạnh mẽ
với những đồ vật khác thường, vd.
một món đồ chơi nào đó như trái banh
chẳng hạn.
Trẻ có thể luôn mang theo món vật đó bên ḿnh,
và nếu có ai đó lấy vật này đi th́ trẻ
sẽ giận dữ, phản kháng lại ngay. Nếu
vật này vẫn không được trả lại,
trẻ thường sẽ quay sang t́m kiếm một món
đồ khác để thay thế.
• Các đáp ứng không
b́nh thường với những trải nghiệm giác
quan.
Trẻ
tự kỷ có thể bị mê hoặc bởi các bóng
đèn, các hoa văn, những vật có chuyển động
xoay tṛn, hoặc một thứ âm thanh nào đó.
Trẻ thao tác trên đồ vật, đồ chơi
không theo các cơ năng thông thường của món
đồ đó, mà như để thỏa măn sự kích
thích của các giác quan.
Trẻ có thể kiên tŕ làm đi làm lại các thao
tác xếp đồ vật thành h́nh dài, xếp chồng
đồ vật lên nhau hoặc xoay một món đồ
để nó xoay tṛn. Trẻ cũng có thể làm đi làm
lại những việc như dội nước bồn
cầu hoặc liên tục tắt mở các bóng đèn.
Tuy tránh né các tiếp xúc cơ thể, nhưng
một số trẻ tự kỷ rất thích các tṛ chơi
mạnh bạo, vd: tung hứng, cù lét, đánh đu, “bay
tàu bay”…
Rối loạn về vận động
• Các mốc chuyển tiếp trong phát
triển vận động có thể bị chậm
trễ.
• Trẻ nhỏ thường gặp khó khăn
trong việc bắt chước các động tác.
• Nhiều trẻ rất hiếu động,
nhưng sẽ giảm bớt khi đến tuổi
thiếu niên.
Hay nhăn nhó, vỗ đập cánh tay,
xoắn vặn bàn tay, đi nhón gót, chạy chúi đầu
về phía trước, nhảy, đi đều bước,
lắc lư hoặc đu đưa thân ḿnh, xoay đầu
hoặc đập đầu xuống đất, vào tường.
• Một số trẻ có trạng thái căng
cơ khi phấn khích hoặc khi quá chăm chú.
Các khiếm khuyết về trí
tuệ và nhận thức
• Hầu hết trẻ tự kỷ đều
có chậm phát triển trí tuệ (Rutter, 1978). Khoảng
40-60% có IQ < 50. Chỉ khoảng 20-30% có IQ > 70. Do
đa số trẻ tự kỷ khó làm các test trí tuệ
(nhất là các test dùng lời nói) nên các kết quả IQ
vẫn c̣n bàn căi .
• Trẻ tự kỷ có IQ thấp thường
kèm theo các khiếm khuyết nặng về kỹ năng
quan hệ xă hội và có nhiều đáp ứng xă
hội lệch lạc, vd. hay sờ mó hoặc ngửi
đồ vật và người khác, có những hành vi
định h́nh và tự gây thương tích bản thân
(Bartak và Rutter, 1976).
• 1/3 trẻ tự kỷ có chậm phát
triển trí tuệ sẽ bị động kinh, c̣n
trẻ tự kỷ có trí tuệ khá th́ tỷ lệ này
thấp hơn (Rutter, 1978). V́ vậy, IQ cũng phần nào
có ư nghĩa tiên lượng.
• Khác với những trẻ chậm phát
triển tâm thần, t́nh trạng chậm phát triển
của trẻ tự kỷ vẫn c̣n chừa lại
những “khoảng” trí tuệ b́nh thường hoặc
gần như b́nh thường (thể hiện trong
phần thao tác của các test trí tuệ).
• Kanner (1943) cũng lưu ư đến
khả năng của trí nhớ xa ở các trẻ tự
kỷ. Các kỹ năng đặc biệt của trẻ
tự kỷ thường thuộc các lĩnh vực âm
nhạc, cơ học và toán học.
• Lockyer (1967) cho rằng trẻ tự
kỷ thường có khả năng trội về thao tác
bằng tay và kỹ năng thị giác-không gian, trong khi
lại rất kém ở các kỹ năng đ̣i hỏi
sự suy nghĩ trừu tượng hoặc tŕnh tự lôgic.
• Về nhận thức: trẻ tự
kỷ không thể bắt chước, không hiểu ư nghĩa
của lời nói, cử chỉ và điệu bộ,
thiếu hẳn tính uyển chuyển, sáng tạo, không
thể hiểu biết về luật lệ, không thể
xử lư hoặc sử dụng các thông tin.
Các
rối loạn khác
• Khí sắc phẳng lặng, cảm xúc quá
mức hoặc không phù hợp. Có thể mau thay đổi,
khóc cười vô cớ hoặc la hét khó kiểm soát.
• Có thể leo trèo, chạy nhảy không
sợ nguy hiểm, nhưng lại có thể sợ
những sự vật hoặc t́nh huống mà b́nh thường
là vô hại, vd. sợ các thú nuôi (chó, mèo…) hoặc
sợ đến một nơi chốn nào đó.
• Thói quen kỳ dị: nhổ tóc, cắn
móng tay, cườm tay, cổ tay hoặc các phần khác
của cơ thể. Các thói quen này thường gặp
ở trẻ tự kỷ có chậm phát triển.
• Tự xoay người ṿng ṿng mà không
bị chóng mặt.
• Động kinh xảy ra ở 1/4 đến
1/3 trường hợp. Thường cơn đầu tiên
xảy ra ở tuổi thiếu niên
(Deykin
& MacMahon, 1979).
CÁC
RỐI LOẠN TÂM THẦN KÈM THEO
|
•
Tăng động
•
Các bận tâm bất thường
•
Ám ảnh
•
Hành vi thúc ép, nghi thức
•
Nói định h́nh
•
Phong cách định h́nh
•
Lo âu, sợ hăi
•
Rối loạn khí sắc
•
Rối loạn giấc ngủ
•
Tự gây thương tích
•
Tics |
64%
36-48%
43-88%
37%
16-86%
50-89%
68-74%
17-74%
9-44%
11%
24-43%
8% |
(C̣n tiếp)